Trường học thân thiện
Chào mừng quý vị đến với Thư viện điện tử phòng GD&ĐT Huyện Quỳ Hợp.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Ba huyen Thanh Quan: Cuoc doi va Su nghiep

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Cao Minh Anh (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:26' 04-12-2010
Dung lượng: 52.0 KB
Số lượt tải: 113
Nguồn:
Người gửi: Cao Minh Anh (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:26' 04-12-2010
Dung lượng: 52.0 KB
Số lượt tải: 113
Số lượt thích:
0 người
Bà Huyện Thanh Quan
Bà Huyện Thanh Quan (? -?), tên thật: Nguyễn Thị Hinh, là một trong những nhà thơ nữ nổi tiếng trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam.
Tiểu sử
Nguyễn Thị Hinh người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, Hà Nội.
Cha bà là Nguyễn Lý (1755-1837), đỗ thủ khoa năm 1783, đời vua Lê Hiển Tông. Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích (1760-1825), và là vợ Lưu Nghị (1804 -1847), người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông đỗ cử nhân năm 1821 (Minh Mệnh thứ 2), từng làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình), nên người ta thường gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Chồng bà làm quan trải đến chức Bát phẩm Thư lại bộ Hình, nhưng mất sớm (43 tuổi).
Dưới thời vua Minh Mạng, bà được vời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi.
Khoảng một tháng sau khi chồng mất, bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc, rồi dẫn bốn con về lại Nghi Tàm và ở vậy cho đến hết đời.
Năm 1870, ở Nghi Tàm nổ ra cuộc đấu tranh chống lệ nộp chim sâm cầm, một đặc sản của vùng này. Theo Ngọc phả (ghi nhận công đức của những người có công với dân làng), thì chính Bà Huyện Thanh Quan đã thảo đơn cho dân gửi lên vua, nhưng vì phục tài đức của bà nên quan huyện Hoàn Long đã phớt lờ đi.
Tác phẩm
Bà Huyện Thanh Quan sáng tác không nhiều, hầu hết viết bằng chữ Nôm, theo thể Đường luật. Hiện gồm những bài sau:
1. Thăng Long thành hoài cổ
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường[1]
2. Qua chùa Trấn Bắc
Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu Ai đi qua đó chạnh niềm đau Mấy toà sen rớt mùi hương ngự Năm thức mây phong nếp áo chầu Sóng lớp phế hưng coi đã rộn Chuông hồi kim cổ lắng càng mau Người xưa cảnh cũ nào đâu tá Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu
3. Qua Đèo Ngang
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen lá ,đá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái da da. Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta.
4. Chiều hôm nhớ nhà
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn. Gác mái, ngư ông về viễn phố, Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ?
5. Nhớ nhà
Vàng toả non Tây bóng ác tà Đầm đầm ngọn cỏ tuyết phun hoa Ngàn mai lác đác, chim về tổ Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà Còi mục gác trăng miền khoáng dã Chài ngư tung gió bãi bình sa Lòng quê một bước dường ngao ngán Mấy kẻ chung tình có thấy là ?
6. Tức cảnh chiều thu
Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ Xanh um cổ thụ tròn xoe tán Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.
7. Cảnh đền Trấn Võ
Êm ái chiều xuân tới Trấn đài Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai Ba hồi chiêu mộ, chuông gầm sóng Một vũng tang thương, nước lộn trời Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi Nào nào cực lạc là đâu tá Cực lạc là đây, chín rõ mười.
8. Cảnh Hương sơn
( chưa có thông tin)
(bài này hiện chưa rõ là của Bà Huyện Thanh Quan hay của Hồ Xuân Hương) Thấp thoáng non tiên lác đác mưa Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ Xanh um cổ thụ tròn xoe tán, Trắng xoá Tràng giang phẳng lặng tờ. Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu, Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ
Bà Huyện Thanh Quan (? -?), tên thật: Nguyễn Thị Hinh, là một trong những nhà thơ nữ nổi tiếng trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam.
Tiểu sử
Nguyễn Thị Hinh người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, Hà Nội.
Cha bà là Nguyễn Lý (1755-1837), đỗ thủ khoa năm 1783, đời vua Lê Hiển Tông. Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích (1760-1825), và là vợ Lưu Nghị (1804 -1847), người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông đỗ cử nhân năm 1821 (Minh Mệnh thứ 2), từng làm tri huyện Thanh Quan (nay là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình), nên người ta thường gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Chồng bà làm quan trải đến chức Bát phẩm Thư lại bộ Hình, nhưng mất sớm (43 tuổi).
Dưới thời vua Minh Mạng, bà được vời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi.
Khoảng một tháng sau khi chồng mất, bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc, rồi dẫn bốn con về lại Nghi Tàm và ở vậy cho đến hết đời.
Năm 1870, ở Nghi Tàm nổ ra cuộc đấu tranh chống lệ nộp chim sâm cầm, một đặc sản của vùng này. Theo Ngọc phả (ghi nhận công đức của những người có công với dân làng), thì chính Bà Huyện Thanh Quan đã thảo đơn cho dân gửi lên vua, nhưng vì phục tài đức của bà nên quan huyện Hoàn Long đã phớt lờ đi.
Tác phẩm
Bà Huyện Thanh Quan sáng tác không nhiều, hầu hết viết bằng chữ Nôm, theo thể Đường luật. Hiện gồm những bài sau:
1. Thăng Long thành hoài cổ
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ.
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường[1]
2. Qua chùa Trấn Bắc
Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu Ai đi qua đó chạnh niềm đau Mấy toà sen rớt mùi hương ngự Năm thức mây phong nếp áo chầu Sóng lớp phế hưng coi đã rộn Chuông hồi kim cổ lắng càng mau Người xưa cảnh cũ nào đâu tá Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu
3. Qua Đèo Ngang
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen lá ,đá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái da da. Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta.
4. Chiều hôm nhớ nhà
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn. Gác mái, ngư ông về viễn phố, Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ?
5. Nhớ nhà
Vàng toả non Tây bóng ác tà Đầm đầm ngọn cỏ tuyết phun hoa Ngàn mai lác đác, chim về tổ Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà Còi mục gác trăng miền khoáng dã Chài ngư tung gió bãi bình sa Lòng quê một bước dường ngao ngán Mấy kẻ chung tình có thấy là ?
6. Tức cảnh chiều thu
Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ Xanh um cổ thụ tròn xoe tán Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.
7. Cảnh đền Trấn Võ
Êm ái chiều xuân tới Trấn đài Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai Ba hồi chiêu mộ, chuông gầm sóng Một vũng tang thương, nước lộn trời Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi Nào nào cực lạc là đâu tá Cực lạc là đây, chín rõ mười.
8. Cảnh Hương sơn
( chưa có thông tin)
(bài này hiện chưa rõ là của Bà Huyện Thanh Quan hay của Hồ Xuân Hương) Thấp thoáng non tiên lác đác mưa Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ Xanh um cổ thụ tròn xoe tán, Trắng xoá Tràng giang phẳng lặng tờ. Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu, Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ
 






Các ý kiến mới nhất