Trường học thân thiện
Chào mừng quý vị đến với Thư viện điện tử phòng GD&ĐT Huyện Quỳ Hợp.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Lê Thái Tổ cho tát hồ Hoàn Kiếm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Cao Minh Gia Minh
Ngày gửi: 09h:40' 06-08-2011
Dung lượng: 114.5 KB
Số lượt tải: 18
Nguồn:
Người gửi: Cao Minh Gia Minh
Ngày gửi: 09h:40' 06-08-2011
Dung lượng: 114.5 KB
Số lượt tải: 18
Số lượt thích:
0 người
LÊ THÁI TỔ CHO TÁT HỒ HOÀN KIẾM... TÌM GƯƠM THẦN
Khi thanh kiếm rơi xuống nước, vua Lê Thái Tổ sai lấp cửa hồ lại, đắp bờ ngang và tát hết nước để tìm..., nhưng chẳng thấy đâu cả.
Câu chuyện huyền thoại vua Lê trả gươm cho rùa thần sau khi đánh thắng giặc Minh xâm lược không ai là không nghe kể, không ai là không biết đến ít nhiều thế nhưng những tình tiết thần thoại trong câu chuyện đó trong sử sách dần phai nhạt đi, đến đầu thời Nguyễn thì câu chuyện mang tính trần tục hơn. Sách Tang thương ngẫu lục viết như sau: “Hồ Hoàn Kiếm ở bên cạnh phường Báo Thiên, thành Thăng Long, thông với nước ngoài sông, hình thể rất to rộng. Hồ này là nơi đức Thái Tổ Hoàng Đế (triều trước) đánh rơi thanh kiếm. Hồi Thái Tổ khởi nghĩa, ngài bắt được một thanh gươm cổ. Khi làm vua, ngài thường vẫn đeo thanh gươm đó.
/
Bàn thờ vua Lê có ở đình Nam Hương từ trước khi trùng tu. Ảnh:36phophuong.
Một hôm chơi thuyền ở trong hồ, chợt thấy một con rùa rất lớn nổi lên mặt nước, bắn nó không trúng. Ngài bèn lấy thanh gươm mà chỉ. Bất đồ, thanh kiếm rơi xuống nước mất, con rùa cũng lặn theo. Ngài giận, sai lấp cửa hồ lại, đắp bờ ngang, tát hết nước để tìm nhưng chẳng thấy đâu cả. Đời sau nhân cái vết bờ ấy chia hồ ra làm hai: Tả vọng, Hữu vọng. Cuối đời Cảnh Hưng, bỗng có một vệt sáng từ cái đảo trong hồ vọt lên cao, sáng rực tan ra rồi tắt, người ta cho là thanh bảo kiếm bay đi”.
Lê Dụ Tông quy định việc nhập tịch cho người nước ngoài Trong lịch sử, bên cạnh việc giao lưu buôn bán thì những biến động chính trị xã hội, chiến tranh binh lửa đã dẫn tới việc thương nhân, dân thường, quan chức, binh lính ngoại quốc chạy sang nước ta cư trú, lánh nạn. Đến đời Lê Dụ Tông, vào năm Đinh Dậu (1717) nhằm quản lý tốt hơn các đối tượng này, để họ hòa nhập vào đời sống đất nước, triều đình đã ban hành quy định mới vào tháng 12 năm đó: “Định rõ chế độ khu xử với các khách buôn nước ngoài. Cho phép ở đâu được nhập tịch và chịu tạp dịch ở đó; từ tiếng nói, ăn mặc đến đầu tóc đều phải nhất nhất tuân theo phong tục nước ta. Ai làm trái bị trục xuất về nước” (Đại Việt sử ký tục biên).
Lê Thái Tông - vua trẻ con không cần người nhiếp chính
Nhiếp chính được hiểu như sau, “nhiếp” là nắm, giữ, “chính” là chính trị, là việc trong triều đình. Người thay thế vua điều hành chính sự gọi là nhiếp chính, đây không phải là một chức quan mà là một vị trí tạm thời nhằm giải quyết công việc quốc gia khi nhà vua thân chinh ra trận, vua không đủ kinh nghiệm, không đủ sức khỏe và thường là khi vua còn nhỏ tuổi…
Trong lịch sử Việt Nam, vị vua duy nhất lên ngôi khi còn nhỏ tuổi nhưng không cần người nhiếp chính đó là Lê Thái Tông, hoàng đế thứ 2 của nhà Hậu Lê. Cuối tháng 8 nhuận năm Qúy Sửu (1433) Lê Thái Tổ (Lê Lợi) băng hà, triều thần theo di chiếu lập Hoàng thái tử Lê Nguyên Long lên làm vua vào ngày mồng 8 tháng 9 năm đó, sử chép theo miếu hiệu gọi là Lê Thái Tông, khi ấy vua mới 11 tuổi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Bấy giờ vua mới 11 tuổi, không cần mẫu hậu che rèm nghe việc mà công việc trong nước đều tự mình làm cả… Vua là bậc hùng tài đại lược, quyết đoán chủ động. Khi mới lên ngôi, nghiền ngẫm tìm phương trị nước, đặt chế độ, ban sách vở, chế tác lễ nhạc, sáng suốt trong chính sự, thận trọng việc hình ngục, mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ đầy đủ, đất nước đã đổi thay tốt đẹp”.
Nhà sử học Vũ Quỳnh của triều Lê đánh giá: “Khi vua lên ngôi mới có 11 tuổi, không phải nhờ buông rèm coi chính sự mà mọi việc trong nước đều tự mình quyết định, bên trong chế ngự quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch. Ngài thông minh trí dũng, còn vượt lên trên cả những vua anh minh đời xưa”.
Lê Thánh Tông phong quan chức cho một gia nô
Gia nô là nô lệ phục dịch, hầu hạ trong các phủ vương công, hoàng thân, đại thần, quan lại và nhà giàu có, địa vị của họ rất thấp kém. Ấy thế mà có một người từ địa vị đó lại được phong làm quan võ, giữ một chức vụ cao cấp, người đó là Đào Bảo.
Đào Bảo là người phương Bắc, sau khi quân
Khi thanh kiếm rơi xuống nước, vua Lê Thái Tổ sai lấp cửa hồ lại, đắp bờ ngang và tát hết nước để tìm..., nhưng chẳng thấy đâu cả.
Câu chuyện huyền thoại vua Lê trả gươm cho rùa thần sau khi đánh thắng giặc Minh xâm lược không ai là không nghe kể, không ai là không biết đến ít nhiều thế nhưng những tình tiết thần thoại trong câu chuyện đó trong sử sách dần phai nhạt đi, đến đầu thời Nguyễn thì câu chuyện mang tính trần tục hơn. Sách Tang thương ngẫu lục viết như sau: “Hồ Hoàn Kiếm ở bên cạnh phường Báo Thiên, thành Thăng Long, thông với nước ngoài sông, hình thể rất to rộng. Hồ này là nơi đức Thái Tổ Hoàng Đế (triều trước) đánh rơi thanh kiếm. Hồi Thái Tổ khởi nghĩa, ngài bắt được một thanh gươm cổ. Khi làm vua, ngài thường vẫn đeo thanh gươm đó.
/
Bàn thờ vua Lê có ở đình Nam Hương từ trước khi trùng tu. Ảnh:36phophuong.
Một hôm chơi thuyền ở trong hồ, chợt thấy một con rùa rất lớn nổi lên mặt nước, bắn nó không trúng. Ngài bèn lấy thanh gươm mà chỉ. Bất đồ, thanh kiếm rơi xuống nước mất, con rùa cũng lặn theo. Ngài giận, sai lấp cửa hồ lại, đắp bờ ngang, tát hết nước để tìm nhưng chẳng thấy đâu cả. Đời sau nhân cái vết bờ ấy chia hồ ra làm hai: Tả vọng, Hữu vọng. Cuối đời Cảnh Hưng, bỗng có một vệt sáng từ cái đảo trong hồ vọt lên cao, sáng rực tan ra rồi tắt, người ta cho là thanh bảo kiếm bay đi”.
Lê Dụ Tông quy định việc nhập tịch cho người nước ngoài Trong lịch sử, bên cạnh việc giao lưu buôn bán thì những biến động chính trị xã hội, chiến tranh binh lửa đã dẫn tới việc thương nhân, dân thường, quan chức, binh lính ngoại quốc chạy sang nước ta cư trú, lánh nạn. Đến đời Lê Dụ Tông, vào năm Đinh Dậu (1717) nhằm quản lý tốt hơn các đối tượng này, để họ hòa nhập vào đời sống đất nước, triều đình đã ban hành quy định mới vào tháng 12 năm đó: “Định rõ chế độ khu xử với các khách buôn nước ngoài. Cho phép ở đâu được nhập tịch và chịu tạp dịch ở đó; từ tiếng nói, ăn mặc đến đầu tóc đều phải nhất nhất tuân theo phong tục nước ta. Ai làm trái bị trục xuất về nước” (Đại Việt sử ký tục biên).
Lê Thái Tông - vua trẻ con không cần người nhiếp chính
Nhiếp chính được hiểu như sau, “nhiếp” là nắm, giữ, “chính” là chính trị, là việc trong triều đình. Người thay thế vua điều hành chính sự gọi là nhiếp chính, đây không phải là một chức quan mà là một vị trí tạm thời nhằm giải quyết công việc quốc gia khi nhà vua thân chinh ra trận, vua không đủ kinh nghiệm, không đủ sức khỏe và thường là khi vua còn nhỏ tuổi…
Trong lịch sử Việt Nam, vị vua duy nhất lên ngôi khi còn nhỏ tuổi nhưng không cần người nhiếp chính đó là Lê Thái Tông, hoàng đế thứ 2 của nhà Hậu Lê. Cuối tháng 8 nhuận năm Qúy Sửu (1433) Lê Thái Tổ (Lê Lợi) băng hà, triều thần theo di chiếu lập Hoàng thái tử Lê Nguyên Long lên làm vua vào ngày mồng 8 tháng 9 năm đó, sử chép theo miếu hiệu gọi là Lê Thái Tông, khi ấy vua mới 11 tuổi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Bấy giờ vua mới 11 tuổi, không cần mẫu hậu che rèm nghe việc mà công việc trong nước đều tự mình làm cả… Vua là bậc hùng tài đại lược, quyết đoán chủ động. Khi mới lên ngôi, nghiền ngẫm tìm phương trị nước, đặt chế độ, ban sách vở, chế tác lễ nhạc, sáng suốt trong chính sự, thận trọng việc hình ngục, mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ đầy đủ, đất nước đã đổi thay tốt đẹp”.
Nhà sử học Vũ Quỳnh của triều Lê đánh giá: “Khi vua lên ngôi mới có 11 tuổi, không phải nhờ buông rèm coi chính sự mà mọi việc trong nước đều tự mình quyết định, bên trong chế ngự quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch. Ngài thông minh trí dũng, còn vượt lên trên cả những vua anh minh đời xưa”.
Lê Thánh Tông phong quan chức cho một gia nô
Gia nô là nô lệ phục dịch, hầu hạ trong các phủ vương công, hoàng thân, đại thần, quan lại và nhà giàu có, địa vị của họ rất thấp kém. Ấy thế mà có một người từ địa vị đó lại được phong làm quan võ, giữ một chức vụ cao cấp, người đó là Đào Bảo.
Đào Bảo là người phương Bắc, sau khi quân
 






Các ý kiến mới nhất