Trường học thân thiện
Chào mừng quý vị đến với Thư viện điện tử phòng GD&ĐT Huyện Quỳ Hợp.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
10 vạn câu hỏi vì sao động vật - Mai Vinh - Ngọc Lan

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:56' 09-03-2024
Dung lượng: 14.5 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:56' 09-03-2024
Dung lượng: 14.5 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
p ,ị
1
NH À X U Ấ T B Ả N
H Ó NG Đ ỨC
TRIDUCBOOKS
house o f knơA/ledge
m oi vinh - ngọc Lon [Biên soạn]
NHÀ XUẤT b á n
HÕNG ĐỨC
r n
1 1 1
T R ID U C B O O K S
h a jw o!kncM ieơge
J
LÒltíÓlĐầV
^í'ng trước thế giới với bao điều kỳ
Ịdiệu, mang trong mình sự tò mò, khát
vọng tìm hiểu, câu nói thường thây
nhất ở trẻ là "Vì sao?". "Vì sao phải hít thở?", "Vì
sao Vịt có thể bơi trên mặt nước?", "Vì sao cây mía
có một đầu ngọt hơn?", "Vì sao Mặt Trăng di theo
chúng ta?", "Vì sao chuông nứt đánh không
kêu?..." Quả thực, những câu hỏi "Vì sao?" đó,
khiến đôi lúc người lớn chúng ta cũng khó mà trả
lời để con trẻ hiểu dươc.
Bước vào tuổi thiếu niên, các em nhỏ đồng thời
bước vào một lứa tuổi ham học hỏi, thích tìm hiểu
những kiến thức khoa học và tri thức nhân loại. Có
thể nói, thời điểm này các thông tin, tri thức được
bộ não các em ghi nhớ rõ ràng và sâu đậm nhất.
Vì vậy, việc đưa đến cho các em những kiến thức
khoa học chuẩn xác là rất quan trọng.
Xuâd phát từ những suy nghĩ trên, chúng tôi đã
sưu tầm và biên soạn bộ sách "10 vạn câu hỏi vì
sao” này, bộ sách mang lại những câu trả lời cho
các em theo từng chủ đề. "10 vạn câu hỏi vì sao"
5
gồm 5 chủ đề: Cơ thể người, dộng vật, thực vật, vũ
trụ kỳ bí và bí ẩn quanh ta. Bộ sách được giải đáp
ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu, kết hợp những hình
ảnh minh họa sinh động sẽ đem đến cho các em
những kiến thức cơ bản, chứa đựng nội dung
phong phú. Từ đó, giúp các em nắm bắt các kiến
thức một cách nhanh nhẩt. Và củng từ đó giúp các
em thỏa mãn trí tò mò của mình, tự tin hơn về kiến
thức khoa học để bước vào cuộc sống.
Bộ 5 cuốn sách trên chính là món quà vô cùng
ý nghĩa mà các bậc phụ huynh dành tặng cho bé
dam mê tìm hiểu khoa học, giúp bé phát triển toàn
diện nhất.
Trân trọng!
6
Vì sac trãii bò lại nhai lại?
Dạ dày của trâu, bò gồm bốn bộ phận, có chức
năng khác nhau: Dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ
túi khế. Thức ăn mà trâu bò ăn vào không dược
nhai kỹ mà chuyên từ dạ cỏ đến dạ tổ ong, qua
quá trình lên men thức ăn lại quay trở lại lên
miệng và sau nhiều lần dược nhai đi nhai lại, nó
được đu'a xuống lá sách, cuối cùng đưa xuống dạ
túi khế hấp thụ. Bên cạnh đó, có một số loài dộng
vật nhu': dê, hươu, nai, lạc đà cũng có hiện tượng
nhai lại. Nguyên nhân các loài động vật này cũng
nhai lại là do thói quen được di truyền trong quá
trình tiến hóa của chúng; làm như vậy sẽ khiến cho
chúng ăn được nhiều hơn, hoặc những lúc thiếu
thức ăn thì sẽ nhai lại dần dần. Như vậy, chúng
vừa đảm bảo được an toàn vừa đáp ứng được đầy
đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể.
Động vật
7
Động vật khúc toài có hiểu nhau không?
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện ra
rằng: Động vật khác loài có thể hiểu nhau thông
qua việc phát tín hiệu. Chẳng hạn: Hươu có thể
nhận ra lời cảnh báo trong tiếng kêu của chim
trong các cuộc đối thoại liên loài trong rừng.
Thông thường, cách ứng xử này chỉ dừng lại ở
mức độ những tín hiệu đơn giản về mối nguy hiểm
hoặc diễn tả nỗi sợ hãi. Chẳng hạn, một con sói hú
lên khi bị dồn vào chân tường, tiếng hú của nó
chuyển đi là sự biểu hiện của một nỗi sợ hãi và tín
hiệu này có thể lây lan khắp các chủng loại cùng loài.
Có trường hợp các loài khác nhau sử dụng
thông tin một cách lừa lọc. Ví dụ, những con đom
đóm cái đang bị đói của một loài có thể bắt chước
các tín hiệu lập lòe mà con cái của một loài khác
thường phát ra khi đáp lại tín hiệu tình cảm. Bằng
cách đó, chúng có thể lừa con đực của loài khác
cùng họ tấn công và ăn thịt.
Động vật tự ch ữ i bệnh n h ư thể nầc?
Đời sống của mỗi loài động vật khó tránh khỏi
được việc bị thương hoặc nhiễm bệnh. Vậy chúng
chữa lành vết thương và bệnh tật bằng cách nào?
8
Tự bản thân mỗi loài củng chính là bác sĩ.
Chúng có thể tự chữa trị bệnh được cho mình và
củng biết được một số loại cây, hạt, quả khi ăn vào
sẽ khỏi bệnh. Ví dụ: những chú khỉ trong rừng
nhiệt đới bị mắc bệnh sốt rét. Chúng có thể tự
chữa cho mình bằng cách gặm vỏ cây Canh-ki-na
vừa đắng vừa chát, vì trong vỏ loại cây này có
thành phần có thể chữa được bệnh sốt rét. Loài
vượn tay dài, sau khi bị thương, nó nhai vụn lá của
cây thơm, vê thành viên và nhét vào miệng vết
thương để chữa lành. Gấu xám châu Mỹ đến già
vẫn thích ngâm mình trong dòng suối nước nóng
có chứa lưu huỳnh để dưỡng sinh. Con mi lộc bị
đau bụng tiêu chảy sẽ đi gặm những cành cây non
và vỏ cây, bởi bên trong có chứa thuốc thuộc da
Động vật
9
và chế mực, có tác dụng ngừng' tiêu chảy. Mèo
hoang khi bị ngộ độc sẽ chạy đi tìm một loại cỏ lau
có vị đắng, sau khi ăn sẽ nôn oẹ ra hết. Đó là do
cỏ lau có một loại kiềm sinh vật, có tác dụng đẩy
chất độc ra ngoài.
Động vật không những có thê tự chữa bệnh cho
mình, mà trên người chúng còn ân chứa nguồn
dược liệu như: sừng tê giác là dược liệu giải nhiệt
quý, mai rùa có thể chữa bệnh sốt phát cuồng,...
còn rất nhiều loài dộng vật khác có các phương
thuốc chữa bệnh phong phú.
Vì sao bù tót tại nổi xung
khi thấy m àu đỏ?
Chúng ta dễ dàng thây ở đấu trường, hễ võ sĩ
cầm tẩm vải đỏ vung lên là con bò liền nổir xung
và lao về phía tấm vải. Phải chăng nó râd ghét
màu đỏ?
Thực tế, mắt của nó không nhìn được hết các
màu trong dải quang phổ ánh sáng như mắt người.
Màu cao nhâT trong dải quang phổ mà nó có thể
nhìn được là màu cam.
Nguyên nhân sâu xa nằm ở động tác ve vẩy
chiếc khăn của đấu sĩ. Nếu mắt người chỉ mở tối
10
đa được 170 độ thì mắt bò lại có thê nhìn được góc
330 độ. Do vậy, mặc dù hai mắt của bò nằm ở hai
bên nhưng nó vẫn có thể nhận biết được mọi thứ
diễn ra trước mặt. Khi bị dồn vào góc trường đấu,
phải đối diện với tấm vải ve vẩy trước mặt như
khiêu khích, nó liền lao vào chiến dấu. Các nhà
khoa học cho rằng hành dộng đó của bò tót là
nhằm bảo vệ lãnh thổ của chúng.
Khi vé bị vở, ẽc sen sè lúm g ì?
vốn là vua trong lĩnh vực tự làm lấy, Ốc sên có
thể dễ dàng sửa chữa những hư hại trên vỏ của
mình, mặc dù với vận tốc rất chậm của ốc sên.
Động vật
11
Tiến sĩ Georges Dussart, thư ký danh dự của
Hội nghiên cứu động vật thân mềm của London
giải thích: "Ôc sên tạo ra vỏ bằng cách xây dựng một
ma trận prôtêin trên lưng và sau đó phủ lên một lớp
vôi vừa cứng vừa có tính chất bảo vệ".
Chúng có thể lập lại quá trình này để vá một
cái lỗ trên vỏ. Nhưng có thể phải mcất đến vài tuần
vì ốc sên sống trên mặt đất phụ thuộc vào vỏ để
giữ độ âm cơ thể, nếu hư hại quá nghiêm trọng,
chúng sẽ bị khô và chết đi trước khi việc sửa chữa
hoàn tất.
Vì sao chuột chũi sợ ánh m ặt trùi?
Chuột chũi rất ít khi đào hang, làm tổ dưới lớp
đất sét hoặc đất cát. Chung quanh tổ của chúng có
dường hầm, 4 bôn liền nhau. Do trong hang luôn
ẩm ướt nên giun đất, nhện, rết, sên dễ dàng sinh
sôi, trở thành món ăn cho chuột chũi.
Chuột chũi lúc nhỏ mắt hãy còn mở rất to, khi
cơ thể lớn dần lên, mắt dần bé đi, cuối cùng thì lặn
sâu vào dưới da, thị lực hoàn toàn thoái hóa. Lúc
đó nó chỉ có thể phân biệt rất ít về sự sáng tối.
Những đặc điểm câu tạo này được hình thành do
sự thích nghi sông lâu dài với môi trường thiếu
ánh sáng trong lòng đất.
12
Vì chuột chũi qua một năm không lên trên đất,
cái chính là không tiếp xúc với ánh sáng, cho nên
không quen với sự chiếu sáng của Mặt Trời. Thân
nhiệt của chuột chũi cao hơn thân nhiệt của người
2°c - 3°c. Trong cơ thê nó không có câu tạo thích
nghi với sự tỏa nhiệt, nếu bị ánh sáng mặt trời
chiếu thẳng vào cơ thể, làm nhiệt độ cơ thể biến
đổi lớn, tần số hô hâp của nó sẽ tăng lên. Nếu ra
ánh sáng lâu, nó sẽ rơi vào trạng thái hôn mê,
nóng, và có thể chết.
Động vật có nám nw Hhùng?
Qua quá trình nghiên cứu sâu hơn nữa, các nhà
nghiên cứu nhận thấy khi động vật ngủ, đại não
có thể phát ra sóng điện từ giống như não người,
do vậy động vật cũng có thể nằm mơ. Có loài nằm
mơ nhiều, thời gian dài, có loài nằm mơ ít, thời
Động vật
13
gian ngắn hơn. Ví dụ, sóc và dơi thường nằm mơ,
cỏn loài chim lại mơ tương đối ít, động vật bò sát
hầu như không bao giờ nằm mơ. Điều này có thể
liên quan đến việc bâd cứ lúc nào chúng củng phải
giữ cảnh giác đối với kẻ thù, để có thể kịp thời
chạy thoát.
Làm thể nào có thể pỉiăn biệt
răn đực và rãn cái?
Quan sát thông thường, đuôi của rắn đực
lớn, đồng thời phần sát hậu môn phình to ra,
đó nhỏ dần; còn đuôi của rắn cái ngắn và từ
môn xuống phần sau nhỏ thót lại. Sự khác biệt
khá
sau
hậu
này
là bởi vì rắn đực ở chỗ gần hậu môn có một đôi
cơ quan tiếp xúc, về mặt giải phẫu học gọi nó là
bán dương vật.
Sự tồn tại của bán dương vật đã dẫn đến sự
khác biệt rõ ràng ở chỗ hậu môn giữa rắn đực và
rắn cái. Vậy thì, trực tiếp kiểm tra bán dương vật
chính là một phương pháp phân biệt giới tính hiệu
quả nhất. Đừng cho rằng phải mổ xẻ rắn ra mới có
thể nhìn thấy bán dương vật, thực ra, chỉ cần vận
dụng linh hoạt đôi tay của bạn thì có thể làm cho
cơ quan sinh dục giống đực này phơi bày ra hết.
14
Tai sao vcỊ tê giác sau khi lăm xong
lại xoa ỉmn lên ngưtiỉ?
Voi và tê giác phần lớn sống ở vùng nhiệt đới,
chốc chốc lại xuống nước ngâm mình, nhưng sau
khi lên khỏi mặt nước, chúng thường phun lên cơ
thể một thứ bùn nhão hoặc một lớp khá dày nước
bùn loãng, kết quả là người bẩn vẫn hoàn bấn.
Chúng có dại dột không nhỉ? Không. Kỳ thực,
lớp bùn đó sẽ là "tấm màn” chống muỗi cho voi.
Tuy da của voi và tê giác rất dày, nhưng ở giữa
các nếp gâ'p của da lại có nhiều chỗ là da non
mỏng mềm, không thể chống lại vô số côn trùng
hút máu như: muỗi, ruồi càng cua, ruồi trâu. Các
loại côn trùng này rất thích chui vào các nếp gấp
của da động vật đẳng nhiệt cỡ lớn như voi và tê
giác, ra sức cắn và châm chích, khiến những con
vật to lớn đó vừa đau vừa ngứa.
Hơn nữa, động vật đẳng nhiệt sau khi tắm xong
thì mạch máu dưới da nở ra rất to so với bình thường,
bốc mùi tanh hôi, hâp dẫn côn trùng hút máu. Voi và
tê giác cũng gặp phải tình trạng đó. Vì vậy, đê tránh
phiền toái, chúng bôi bùn nhão và nước bùn loãng để
mong lấp kín những vết nhăn trên da, hình thành
màng bảo vệ mình khỏi nhừng kẻ không mời mà
đến. Mặt khác, khi vừa lên khỏi mặt nước, da dẻ còn
đang ướt, đắp ngay bùn lên da mới dễ dính.
Động vật
15
Vì sao ngài lãm d ẻ irứ n gxm g
lủ chểi ngay?
Hầu hết loài vật đều sinh sản và đợi con non
cứng cáp rồi mới chết. Nhiều loài còn đợi được
đến các thế hệ cháu chắt sau lủ lượt ra đời. Thế
nhúng, ngài tằm vừa đẻ trứng xong là chết ngay.
Tại sao lại như vậy?
Khi con ngài bay bổng trên bầu trời, ấy là nó
đã trải qua một "kiếp" tằm. Tằm ăn lá, nhả tơ,
quân kén, rồi thành ngài. Khi đó, nó đã ở giai
đoạn cuối cùng của một đời sống sinh vật. Lúc
này, miệng của nó đã bị thoái hóa, không thể ăn
được gì nữa.
Trong khi mang trứng, ngài đã dự trữ khá
nhiều chất dinh dưỡng cho sứ mệnh cuối cùng của
nó - sứ mệnh truyền giống. Khi đẻ trứng, nó bị kiệt
sức rất nhanh. Và khi quả trứng cuối cùng ra đời,
nó lặng lẽ giã từ sự sống. Đó cũng là định mệnh
của họ hàng nhà tằm.
Tại S(W mội s ê loài thú lại có túi?
ớ phần lớn loài động vật có vú, khi con non
còn trong bụng mẹ, nó được nuôi dưỡng bởi
nhau thai. Bộ thú có túi không có cơ quan này,
16
nên con non cần một "chiếc túi" của mẹ để tiếp
tục lớn lên trong đó.
Ngay khi sinh ra, những con kanguru nhỏ bò
theo lớp lông mao sát với da để chui vào chiếc túi
ờ trước bụng mẹ nó. Ở đó, có những cặp vú, và
con thú non bú sữa mà không sợ hãi gì cả. Sữa
chảy trực tiếp vào ống tiêu hóa của chúng. Phải 7
tháng sau, những con non của lứa tiếp theo mới
được sinh ra. Khi đó, lứa đầu đã đủ cứng cáp để
rời khỏi túi, ra sống ở bên ngoài.
Phần lớn bộ thú có túi, như kanguru và gấu túi,
có chiếc túi mở về phía trước. Nhưng ở những
giông phải đào bới thì ngược lại, chiếc túi lại mở
về phía sau, khiến đất bẩn không thể lọt vào được
khi con vật đào hang.
Động vật
17
Tại sao chân hôi?
Chồn có hai tuyến dịch hôi ở phía dưới đuôi.
Thứ "mùi đuổi khách" này chính là vũ khí tự vệ
của chồn. Gặp kẻ thù, nó chỉ cần phóng ra một
tia chất dịch đó, địch thủ chịu hết nổi, đành phải
từ bỏ.
Một tia bảo vệ như vậy có thể bắn xa 3m. Chồn
bắn lúc tia này, lúc tia kia, thậm chí cả hai tia cùng
lúc. Mỗi tuyến hôi có thể bắn 5 - 6 phát về phía kẻ
thù. Sức mạnh của các tia chứa mùi khó chịu đó
không hề gây thương tích, cũng không có sức thẩm
thâu vào cơ thể địch thủ, nhưng chúng sẽ khiến đối
phương ngạt thở. Nếu bị bắn trúng mắt, địch thủ có
thể bị sức mạnh của tia làm mù tạm thời. Tuy nhiên,
chồn hôi thường cảnh báo đối phương ữước rồi mới
ra tay. Trước khi "phóng hoả tiễn", chồn cong đuôi và
giậm chân để kẻ lạ mặt có thời gian rút lui.
Chồn rất có lợi cho mùa màng bởi nó bắt toàn
những con vật gây hại như: châu chấu, dế, chuột,...
Mặt khác, chồn có bộ lông dày, có thể làm áo ấm
rất tốt. Bởi thế, người ta thường lập trại nuôi chồn.
Động vật nao m à giong đực sinh con?
Theo quy luật tự nhiên, chỉ giống cái mới sinh
con, nhưng loài cá ngựa biển - còn gọi là hải mã
18
lại đi ngược với quy luật ấy. Cứ đến mùa động
đực, bên sườn cá ngựa đực hình thành những nếp
nhăn và dần phát triển thành chiếc túi nuôi con.
Cá ngựa cái sẽ phóng trứng vào chiếc túi ấy, mỗi
đợt khoảng 100 trứng. Trứng sẽ hóa thành bào
thai. Trên thành túi nuôi con của cá ngựa đực xuât
hiện rất nhiều mạch máu nổi, nối liền với mạch
máu các bào thai nhằm cung cấp dưỡng chất cho
chúng. Đến lúc trứng nở thành cá ngựa con thì cá
ngựa đực "vượt cạn".
Theo các nhà nghiên cứu, môi trường sống của
cá ngựa là vùng đáy biển nông, rất phức tạp và
thường xuyên đối mặt với nhiều nguy hiểm. Chính
nhờ tập tính sinh sản khác thường này mà cá ngựa
mới đảm bảo tối đa cho việc truyền giống.
Tạỉ sao đại đa s ẽ cá có
lưngđert bụng trăng?
Đại đa số cá có da ở lưng sẫm hơn rất nhiều so
với phần bụng. Các loài cá nước ngọt như: mè,
chép, trắm đen,... đều có phần lưng màu xám đen.
Còn lưng của những loài sống ở biển như cá mập,
cá thoi,... thì thậm chí đen tuyền. Ngoài ra, bất kể
là cá nước ngọt hay là cá nước mặn, phần bụng
hầu như đều là màu trắng hoặc màu xám nhạt.
Động vật
19
Tại sao phần bụng và phần lưng của cá lại có sự
khác biệt lớn như vậy? Nguyên do là cá sinh sống
ở trong nước, khi bơi thường là lưng hướng lên trên,
bụng úp xuống dưới. Khi có ánh sáng mặt trời, từ
dưới nước nhìn lên thì mặt nước là một mảng sáng
loáng, râ"t giống với màu trắng của bụng cá. Do đó,
những con cá lớn ở dưới sâu rất khó phát hiện ra
con mồi. Cũng với quy luật như vậy, từ trên nhìn
xuống, màu sắc của nước rất thẫm, gần giống với
màu sắc của lưng cá, các loài chim săn mồi khó có
thể nhìn thây cá bơi trên mặt nước.
Tóm lại, màu sắc lưng thẫm, bụng nhạt của đại
đa sô" các loài cá là kết quả của sự thích nghi với
cuộc sống trong nước, bảo vệ bản thân khỏi bị kẻ
địch phát hiện.
V/ sao tao tỉè có thể tâẻ lưũi
dũi gấp
6 tẩn cơ th ể cùa nó?
Lưỡi tắc kè rất linh hoạt nhờ các sắp xếp đặc
biệt của những sợi cơ lưỡi "siêu co giãn", tắc kè có
thể dễ dàng phóng lưỡi ra và thu lưỡi lại. Trước
khi bắn, bao giờ tắc kè cũng rút lưỡi về sâu trong
miệng để "nạp năng lượng". Chính nhờ khả năng
co giãn đặc biệt này, những "phát đạn" do lưỡi bắn
ra đủ mạnh để làm tê liệt những con mồi lớn.
20
Các sợi cơ của lưỡi tắc kè gấp nếp nhiều lần. Vì
vậy, nó có thể bắn lưỡi ra dài đến 60cm. Tuy
nhiên, với những con mồi ở khoảng cách sát gần,
tắc kè hoa tỏ ra bất lực, vì "chiếc lò xo" lưỡi của nó
phóng ra không đủ mạnh.
Trước đó, các nhà khoa học đã phát hiện ra
những cơ tương tự ở một số loài sâu bọ, nhưng đây
là lần đầu tiên họ tìm thấy ở một động vật có
xương sống.
Màt thú ăn thự Khác mát thú ăn cỏ
n h ư th ẽ nức?
Nếu để ý, bạn sẽ nhận thấy một hiện tượng rất
thú vị. Với các loài thú ăn thịt như: sư tử, hổ, báo,
Động vật
21
chó sói,... mắt của chúng đều nằm phía trước phần
mặt, còn vị trí mắt của các loài thú ăn cỏ như: trâu,
ngựa, dê,... lại ở hai bên.
Đây có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên?
Không phải, điều này có liên quan mật thiết với
phương thức sinh sông của chúng.
Các loài ăn thịt trong tự nhiên đều là những kẻ
tấn công chủ động, tích cực. Một khi đã phát hiện
thấy con mồi, chúng sẽ nhanh chóng truy đuổi.
Trong quá trình này, chúng không những cần cơ
đùi khỏe, một cái miệng rộng với hàm răng sắc
nhọn, mà còn phải dùng đến đôi mắt để quan sát
chăm chú mục tiêu, ước lượng chính xác khoảng
cách. Chính vì thế, mắt ở phía trước mặt sẽ tạo
thuận lợi cho quá trình săn đuổi này.
Các loài động vật ăn cỏ lại không giống như
vậy. Số phận của chúng là dễ trở thành mồi ngon
cho các loài ăn thịt bất cứ lúc nào. Vì thế, mắt hai
bên sẽ tạo ra tầm nhìn rộng rãi (có con có tầm nhìn
tới 360 độ), giúp chúng nhanh chóng phát hiện ra
kẻ địch và chạy trốn.
Vượn và khỉ tuy không hung dữ như các loài
thú ăn thịt, nhưng cũng có mắt mọc ở chính trước
mặt. Đó là vì câu trúc này có lợi cho chúng trong
việc xác định khoảng cách giữa các cành cây. Từ
đó, chúng có thể nhanh chóng lẩn tránh kẻ thù.
22
Gâu trúc tuy ăn tre, trúc nhưng lại có đôi mắt
mọc ở phía trước. Đặc điểm này là do chúng thừa
kế được từ tổ tiên - những động vật chuyên ăn thịt.
Vì sao cá có m ài tanh?
Hầu hết các loài cá đều có mùi tanh, đặc biệt
là cá biển, mùi tanh rất nồng. Đó là bởi trong da
của cá có một tuyến niêm dịch. Nó tiết ra chất
niêm dịch đặc biệt, gọi là chất amin tam giáp, có
mùi tanh đặc trưng.
Trong nhiệt độ bình thường, chất amin tam giáp
rất dễ phát tán vào không khí. Cho nên người ta
thường ngửi thấy mùi tanh.
Vì sao cá nổi lẽn chìm xuẽng d ê dầng?
Loài cá có chiếc bong bóng trong bụng luôn
chứa đầy không khí. Sự thay đổi áp suâT của bong
bóng giúp chúng điều chỉnh vị trí dễ dàng. Không
khí được nạp vào bong bóng theo hai con đường:
hoặc là cá nổi lên mặt nước, lấy không khí trực
tiếp qua đường khí quản rất nhỏ ở đầu, hoặc
chúng lấy không khí ngay trong nước qua các tế
bào đỏ ở mang.
Động vật
23
Các loài cá điều chỉnh vị trí trong nước chủ yếu
nhờ vào việc làm thay đổi áp suâT không khí trong
bong bóng (khi muốn nổi lên, nó nạp đầy không
khí vào, muốn lặn xuống, nó lại nhả ra). Đồng thời
với việc này, cá cũng sử dụng các động tác quẫy
đuôi rất mạnh, cộng với việc đớp đầy một lượng
nước vào miệng rồi nhả qua hai mang, tạo thành
một lực phản lực đẩy nó bơi lên hoặc lặn xuống
Tất nhanh chóng.
Ở từng độ sâu khác nhau, cá điều chỉnh dung
lượng không khí trong bong bóng để cân bằng tỉ
trọng của cơ thể với mật độ của nước, nhằm giữ
thăng bằng. Tất nhiên những chiếc vây cũng có tác
dụng quan trọng trong động tác giữ thăng bằng
của cá: vây lưng, vây bụng, vây ngực và vây hậu
môn giúp cho cá không bị ngả nghiêng.
ctiất nhớt trên m ình cá có lác đụng g ì?
Trên da của loài cá có một tuyến chất nhờn, tế
bào trong tuyến dịch nhớt này có thể tiết ra rất
nhiều dịch nhớt, dịch nhớt phủ trải khắp mình cá,
tạo thành một lớp dịch nhớt, khiến cho lớp da của
chúng vô cùng nhẵn bóng.
Tác dụng của dịch nhớt này râT lớn! Nó có tác
dụng bảo vệ cơ thể cá, phòng ngừa sự xâm nhập
24
của vi khuẩn, vi khuẩn độc, ký sinh trùng và các
sinh vật nhỏ bé khác. Ngăn chặn các vật chất có
hại tiến vào cơ thể, để đảm bảo sự sinh tồn bình
thường của cá.
Đối với một sô" loài cá mà nói, dịch nhớt còn là
một công cụ hữu hiệu để thoát khỏi cái chết. Ví dụ
như ở bề mặt cơ thể của cá nheo có một lớp dịch
nhớt khiến cho kẻ thù rất khó bắt được nó. Cá
trạch cũng nhờ chất dịch nhớt mới có thể luồn lách
dễ dàng trong nước bùn được.
Dịch nhớt còn có thể giúp cho loài cá sinh sôi.
Vào mùa sinh sản, các loài cá đực dùng dịch nhớt
dính các thực vật để tạo thành hang cá. Có loài cá
đực lại dính những bọt khí đã được thổi ra ngay
trên chất nhớt tạo thành khối bọt, mục đích là để
cho cá cái dễ dàng đẻ trứng đồng thời trứng được
thụ tinh.
Động vật
25
Loài cứ thỏ n h ư th ễ núc?
Cá hô hấp bằng mang, chúng lấy ôxy trong
nước, rồi ôxy sẽ chuyển đến các mạch máu chứa
trong mang.
Mang cá giống như một chiếc lá ở trong hai
"khe” từ đáy miệng đến tận ngoài. Miệng của các
khe này được bảo vệ bởi hai nắp mang.
Khi cá há miệng, nắp mang khép lại, nước được
đưa vào khoang miệng. Khi miệng cá khép lại, nắp
mang lại được mở ra, nước ùa vào trong mang.
Trong miệng có các nắp van ngăn nước chảy ngược
trở lại.
Mang cá ở sát da có nhiều mạch máu. Khi
nước làm ướt chúng, ôxy chuyển từ nước vào
máu và khí Cacbonic cũng được chuyển từ máu
vào trong nước.
Tại S(W cứ chịu được áp suất C(W dưới sáu?
Tất cả các loài cá đều có áp suất bên trong cân
bằng với áp suất bên ngoài cơ thể. Điều này đúng
cả với các mô và bong bóng đầy khí ở chỗ rỗng
trong bụng mà rất nhiều loại cá có.
Chúng chỉ gặp rắc rối khi phải thay đổi độ sâu
rất lớn. Nếu bơi lên thường xuyên chúng có thể
26
thở để tạo ra cân bằng. Còn nếu lặn xuống râ't sâu
cơ thể chúng có thể xẹp lại.
Hầu hết, các loài cá nước sâu không có túi bóng
khí, điều này rất tốt cho chúng bởi vì khí giãn nở
nhiều hơn mô và chất lỏng nhiều lần.
Cá său ăp trứng n h ư ttiể nào?
Cá sâu nhỏ mới nở dài khoảng 8cm, có thể tìm
thấy ở ao đầm, sông ngòi, cửa sông cạnh vùng
đầm lầy khu vực nhiệt đới. Khi đến kỳ trứng nở,
cá sấu mẹ sẽ đào xới đất, để khi cá sâu con phá
vỏ trứng chui ra có thể dễ dàng chui lên mặt đất.
Động vật
27
Tại sao nhìn vẩy cá có thể
biết tuổi của chúng?
Muốn biết tuổi của cá, thông thường chỉ cần
bóc một cái vẩy từ trên thân cá, quan sát tỉ mỉ thì
có thể thấy ngay. Tại sao nhìn vẩy cá thì có thể
biết tuổi của cá?
Từ trong quy luật sinh trưởng của cá, đại đa số
cá năm đầu tiên bắt đầu cuộc đời thì toàn thân
chúng đã mọc đầy vẩy. v ẩ y là do nhiều tấm mỏng
to nhỏ khác nhau tạo thành, giống như một hình
nón thấp bị cắt mất chóp không quy tắc lắm, ở giữa
dày, bên trên mỏng, lớp phía trên cùng là nhỏ nhất,
nhưng là già nhất; lớp phía dưới cùng to nhẩt
nhưng là trẻ nhất. Khi vẩy lớn lên thì trên bề mặt
của nó có tấm mỏng mới mọc ra, cùng với sự gia
tăng của tuổi cá, số tấm mỏng cũng không ngừng
tăng lên.
Trong bôn mùa của một năm, tốc độ sinh
trưởng của cá không giống nhau. Thông thường,
mùa xuân và hạ sinh trưởng nhanh, mùa thu sinh
trưởng chậm, mùa đông lại ngừng sinh trưởng,
mùa xuân năm thứ hai lại khôi phục sinh trưởng.
Vẩy cá cũng như vậy, phần mọc ra vào mùa xuân,
hạ tương đối rộng, phần mọc ra vào mùa thu
tương đối hẹp, mùa đông lại ngừng sinh trưởng.
28
Tấm mỏng rộng hẹp không giống nhau xếp lại với
nhau có thứ tự, bao quanh trung tâm từng cái nối
tiếp nhau, hĩnh thành nhiều vòng, gọi là "vòng
năm sinh trưởng", s ố vòng năm sinh trưởng vừa
vặn phù hợp với số năm mà loài cá đã trải qua.
Tấm mỏng rộng được mọc ra vào mùa xuân, hạ
xếp thưa thớt, tấm mỏng hẹp được mọc ra vào
mùa thu xếp dày đặc, giữa 2 loại này có ranh giới
rất rõ ràng, là sự phân chia ranh giới giữa vòng
sinh trưởng năm thứ nhất và vòng sinh trưởng
năm thứ hai, gọi là "vòng đời". Cá có vòng đời
nhiều thì tuổi lớn, cá có vòng đời ít thì tuổi ít.
Điêu g ì gỉúp cá tiec bơi cực nhanh?
Sau nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học cho
biết, sở dĩ cá heo bơi nhanh vì lớp da của nó có cấu
tạo đặc biệt, làm giảm tối đa lực cản của nước.
Khi giải phẫu cá heo, các nhà khoa học phát hiện
bề mặt da của nó chia làm 3 lớp: màng ngoài làm
bằng chất sừng nhẵn rất mỏng, rồi đến biểu bì và
chân bì. Trên chân bì mọc ra vô số mấu ruột rỗng,
tựa như những ống tròn nhỏ "cắm" trong lớp biểu bì
màu đen. Những ống này đàn hồi rất tốt, có thể triệt
tiêu phần lớn lực cản của nước, do đó cá heo có thể
di chuyển dưới đại dương với tốc độ đáng nể.
Động vật
29
Mô phỏng cấu trúc da cá heo, người ta đã chế tạo
ra loại cao su đặc biệt, giàu tính đàn hồi. Bên trong có
vô số ống ruột rỗng nhỏ và có đường Ống thông giữa
các ống rỗng này, dẫn một loại dịch nhớt chảy lên bề
mặt. Kết quả là trên bề mặt cao su có một màng
mỏng, trơn nhẵn, có sức co dãn, làm giảm bớt lực ma
sát với nước. Nhờ vậy, tàu ngầm phủ loại màng mỏng
này có thể giảm bớt lực cản do dòng nước sinh ra.
Tạỉ sao thịt cá biên hhởng m ặn?
Trong biển khơi có vô vàn các loài cá sinh sống,
trong đó có rất nhiều loài cá là món ăn ngon được
mọi người ưa thích. Nước biển vừa mặn lại vừa
chát, có chứa thành phần muôi lớn. Cá dưới biển
luôn uống nước biển, thành phần muối sẽ thẩm
30
thấu vào cơ thể cá, thế nhưng tại sao thịt của cá
biển lại không bị mặn?
Cá sống trong nước biển có thể phân thành 2
loại lớn: Loài cá xương cứng và loài cá xương mềm.
Trong mang của loài cá xương cứng có một loại
tế bào có tác dụng đặc biệt, gọi là tế bào tiết ra
muối. Tế bào tiết ra muôi có thể tiết ra thành phần
muối, chúng có thể thu hút thành phần muối ở
trong máu, sau khi cô đặc, chúng tiết muối ra
ngoài cơ thể cùng với dịch nhớt. Các tế bào tiết ra
muối này luôn làm việc với hiệu suất cao nên cơ
thể cá luôn giữ được thành phần muối thấp.
Việc các loài cá xương mềm trong nước biển giữ
cơ thể có thành phần muôi thấp là cả một khả
năng. Thường trong máu của các loài cá này có
chất urê nồng độ cao, khiến cho nồng độ máu cao
hơn nồng độ nước biển, như vậy có thể giảm thiểu
sự ngấm vào của thành phần muối, vì vậy thịt của
chúng vẫn luôn không bao giờ bị mặn.
CÓphdỉ tất cả các lcủỉ cá mập
đêu ăn thịt người?
Không phải tất cả các loài cá mập đều tấn
công con người, chỉ có vài chục loài, trong số đó
Động vật
31
là cá mập trắng, cá mập xanh, cá mập hổ, mới
chọn con người làm đối tượng tấn công. Đáng sợ
nhất phải kể đến cá mập trắng với chiều dài cơ
thể bằng một chiếc xe bus. Ngoài con người,
không có loài động vật nào săn bắt được chúng.
Lực cắn của bộ hàm cá mập trắng gâp 300 lần con
người, có thể dễ dàng cắn đứt đôi con mồi. Vì
thói quen thích săn đuổi con người và các loài
động vật khác mà chúng còn được gọi là "cá mập
ăn thịt người".
Cá nhám kình lú cá g ì?
Cá nhám kình được coi là "người khổng lồ"
trong các loài cá mập dài trên lOm. Trọng lượng
lớn nhất lên tới 10 tấn. Tuy cơ thể to lớn nhưng
chúng lại rất hiền hòa. Chúng thường thích lặng lẽ
phơi nắng trên mặt biển hoặc từ từ há miệng nuốt
những loài giáp xác động vật thân mềm trôi nổi
trong nước.
Tại sao có loài cá có vấy, có loài khùng?
Đa số loài cá trên mình đều có một lớp vẩy
cứng bao bọc. v ẩy là vật phát sinh của da cá, có
chức năng bảo vệ cơ thể của cá, nhưng có một số
32
loài trên mình không có vẩy vì vẩy của chúng đã
bị thoái hóa. Lớp vẩy trên mình cá chình bị thoái
hóa thành lớp da mỏng, có rất nhiều mạch máu
nhỏ để hỗ trợ hô hâp. Cá có vẩy hay không là do
trong quá trình phát triển, chúng thích nghi với
môi trường tự nhiên mà hình thành nên.
Tại sao lợn thích đãi váoh và ăn đất sét?
Những chú lợn được người nuôi, chỉ ăn rồi ngủ.
Nhưng thỉnh thoảng nó chẳng chịu như vậy mà
luôn dũi vách, gặm tường. Chẳng biết nó muốn
tìm cái gì?
Tổ tiên của lợn sống nơi hoang dã, thường phải
dùng mũi ủi đất kiếm ăn. Bởi vậy, mũi của chúng
râ't cứng và răng râ't sắc. Đi kiếm ăn, lợn thường
Động vật
33
ăn cả rễ cây và củ dính đất sét. Trong đâ't sét có
nhiều chất khoáng như: phốtpho, canxi, côban, sắt,
đồng mà cơ thể nó rất cần. Nay dù được người
nuôi và bị thuần hóa từ lâu nhưng nó vẫn chưa bỏ
thói quen ủi, dũi xưa kia, thỉnh thoảng dũi tường
vách thấy miếng đất nào "ngon" là theo thói quen
cũ, lợn có thể "xơi" luôn.
\>ì S(W cng cỉuiũ sông láu
gấp 10 lẩn ong thương?
Trong đàn thường có 3 loại ong: Thứ nhâ't là
ong thợ. Đó là những con cái không có khả năng
sinh đẻ. Chúng chiếm sô' lượng nhiều nhất trong
đàn, và chuyên đảm nhận những công việc nặng
nhọc như xây tổ, kiếm mồi, chăm sóc ong con,
chống kẻ thù. Loại thứ hai là ong đực. Chúng cũng
phải kiếm ăn và xây tổ, nhưng ít nặng nhọc hơn
ong thợ. Và thứ ba là ong chúa.
Trong đàn chỉ có ong chúa là có quyền đẻ trứng.
Vì thế, nó được nâng niu và bảo vệ râ't cẩn thận. Khi
các con khác phải đi kiếm thức ăn thì ong chúa chỉ
nằm trong tổ. Nó được cung phụng loại mật hoa
ngon nhâ't. Cho dù cả đàn ong phải nhịn đói thì ong
chúa vẫn no đủ. Cả cuộc đời, ong chúa hầu như
không phải chạm trán với kẻ thù. Có lẽ vì vậy mà
34
ong chúa có thể sống hết tuổi thọ của nó (5 - 6 năm),
trong khi cằc con ong khác chỉ sống được 6 tháng
đến một năm mà thôi.
Vì S(Wrăn có thê nuẾi cm môi
ICgấp nhiêu lần đáu nó?
Khả năng này nằm ở cấu tạo miệng của nó.
Miệng của người chỉ có thể mở to đến 30 độ, còn
rắn thì đến 130 độ. Nguyên do là đầu rắn và các
xương hữu quan mở khép không giống như các
động vật khác, cằm rắn (hàm dưới) mở rất rộng
xuống phía dưới, vì đầu rắn nối với mây cái xương
ở cằm, có thể cử động được, không giống với các
động vật khác là gắn chặt với xương đầu, c ố định
không cử động. Hơn nữa, các xương của bộ hàm
đều khớp với nhau, không những xương hàm mà
xương khẩu cái, xương cánh, xương ngang đều nối
với nhau bằng dây chằng rất đàn hồi, có thể mở
rộng ra hai bên, vì vậy miệng rắn không những có
thể mở ra thật to, mà còn mở được ra hai bên phải
trái không bị hạn chế, do vậy rắn có thể nuốt
những con mồi to hơn gâp nhiều lần miệng nó.
Dù cho kiểu miệng của rắn rất khéo, nhưng
trước khi nuốt thức ăn, loài bò sát này còn phải
đem con mồi đã bắt gia công một phen. Nó bóp
Động vật
35
nặn thành sợi dài, khi nuốt nhờ răng hình móc câu
giúp đưa thức ăn vào họng. Ngực rắn không có
xương mỏ ác xuyên tới xương sườn, nên xương
sườn có thể tự do cử động. Vì vậy, thức ăn từ hầu
xuống họng, vào thẳng nơi da bụng có thể phình
to, đồng thời rắn còn tiết ra rất nhiều nước bọt,
thật chẳng khác gì cho thêm lượng lớn "dầu nhờn".
Tại sao luõỉ răn lạỉ phan nhánh?
Lưỡi phân nhánh của rắn không chỉ là cơ quan
vị giác, mà còn là một công cụ định vị đặc biệt.
Nhà khoa học Hy Lạp cổ ở thế kỷ IV trước Công
nguyên Yalishiduo cho rằng, lưỡi phân nhánh là rắn
có thể 2 lần thưởng thức vị ngon của thức ăn. Theo
36
lý giải của nhà khoa học Ai Cập cổ: Rắn là loại bò
sát ở những vùng đất bẩn, chiếc lưỡi phân nhánh có
thể giúp nó làm sạch những chất bẩn trong mũi nó.
Người Ân Độ cổ lại nhận định rằng, chiếc lưỡi này
thật tuyệt diệu, giống như chiếc khiên tấn công vào
con mồi, giống như ống nu'ớc hút từ trong ra và có
thể có khả năng thôi miên con mồi. Những cách
nhận xét này vẫn chưa có căn cứ khoa học nào.
Gần đây, nhà động vật học người Mỹ Shiwenke
đã nghiên cứu vân đề này, ông phát hiện ra rằng lưỡi
phân nhánh của rắn không chỉ là cơ quan vị giác, mà
còn là một công cụ định vị đặc biệt. Nó có thể phân
biệt phương hướng cũng giống như 2 tai của con
người, có tác dụng phân biệt được âm thanh từ
hướng nào tới. Rắn dựa vào 2 nhánh cạnh lưỡi để
đảm nhận được thông tin từ con mồi, từ đó có thể
xác định được vị trí con mồi, lập tức truy đuổi. Thử
nghiệm đã chứng minh rằng, nếu như cắt bỏ 2 đầu
lưỡi nhỏ của rắn, nó sẽ mất đi khả năng truy tìm mùi,
thậm chí còn bị lạc hướng, cứ vòng vo trên mặt đất.
Vì sao vịt Hỉiõng sợ nưtic mùa đùng?
Chúng ta biết rằng vịt, ngan là con vật sống lâu
d...
1
NH À X U Ấ T B Ả N
H Ó NG Đ ỨC
TRIDUCBOOKS
house o f knơA/ledge
m oi vinh - ngọc Lon [Biên soạn]
NHÀ XUẤT b á n
HÕNG ĐỨC
r n
1 1 1
T R ID U C B O O K S
h a jw o!kncM ieơge
J
LÒltíÓlĐầV
^í'ng trước thế giới với bao điều kỳ
Ịdiệu, mang trong mình sự tò mò, khát
vọng tìm hiểu, câu nói thường thây
nhất ở trẻ là "Vì sao?". "Vì sao phải hít thở?", "Vì
sao Vịt có thể bơi trên mặt nước?", "Vì sao cây mía
có một đầu ngọt hơn?", "Vì sao Mặt Trăng di theo
chúng ta?", "Vì sao chuông nứt đánh không
kêu?..." Quả thực, những câu hỏi "Vì sao?" đó,
khiến đôi lúc người lớn chúng ta cũng khó mà trả
lời để con trẻ hiểu dươc.
Bước vào tuổi thiếu niên, các em nhỏ đồng thời
bước vào một lứa tuổi ham học hỏi, thích tìm hiểu
những kiến thức khoa học và tri thức nhân loại. Có
thể nói, thời điểm này các thông tin, tri thức được
bộ não các em ghi nhớ rõ ràng và sâu đậm nhất.
Vì vậy, việc đưa đến cho các em những kiến thức
khoa học chuẩn xác là rất quan trọng.
Xuâd phát từ những suy nghĩ trên, chúng tôi đã
sưu tầm và biên soạn bộ sách "10 vạn câu hỏi vì
sao” này, bộ sách mang lại những câu trả lời cho
các em theo từng chủ đề. "10 vạn câu hỏi vì sao"
5
gồm 5 chủ đề: Cơ thể người, dộng vật, thực vật, vũ
trụ kỳ bí và bí ẩn quanh ta. Bộ sách được giải đáp
ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu, kết hợp những hình
ảnh minh họa sinh động sẽ đem đến cho các em
những kiến thức cơ bản, chứa đựng nội dung
phong phú. Từ đó, giúp các em nắm bắt các kiến
thức một cách nhanh nhẩt. Và củng từ đó giúp các
em thỏa mãn trí tò mò của mình, tự tin hơn về kiến
thức khoa học để bước vào cuộc sống.
Bộ 5 cuốn sách trên chính là món quà vô cùng
ý nghĩa mà các bậc phụ huynh dành tặng cho bé
dam mê tìm hiểu khoa học, giúp bé phát triển toàn
diện nhất.
Trân trọng!
6
Vì sac trãii bò lại nhai lại?
Dạ dày của trâu, bò gồm bốn bộ phận, có chức
năng khác nhau: Dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ
túi khế. Thức ăn mà trâu bò ăn vào không dược
nhai kỹ mà chuyên từ dạ cỏ đến dạ tổ ong, qua
quá trình lên men thức ăn lại quay trở lại lên
miệng và sau nhiều lần dược nhai đi nhai lại, nó
được đu'a xuống lá sách, cuối cùng đưa xuống dạ
túi khế hấp thụ. Bên cạnh đó, có một số loài dộng
vật nhu': dê, hươu, nai, lạc đà cũng có hiện tượng
nhai lại. Nguyên nhân các loài động vật này cũng
nhai lại là do thói quen được di truyền trong quá
trình tiến hóa của chúng; làm như vậy sẽ khiến cho
chúng ăn được nhiều hơn, hoặc những lúc thiếu
thức ăn thì sẽ nhai lại dần dần. Như vậy, chúng
vừa đảm bảo được an toàn vừa đáp ứng được đầy
đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể.
Động vật
7
Động vật khúc toài có hiểu nhau không?
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện ra
rằng: Động vật khác loài có thể hiểu nhau thông
qua việc phát tín hiệu. Chẳng hạn: Hươu có thể
nhận ra lời cảnh báo trong tiếng kêu của chim
trong các cuộc đối thoại liên loài trong rừng.
Thông thường, cách ứng xử này chỉ dừng lại ở
mức độ những tín hiệu đơn giản về mối nguy hiểm
hoặc diễn tả nỗi sợ hãi. Chẳng hạn, một con sói hú
lên khi bị dồn vào chân tường, tiếng hú của nó
chuyển đi là sự biểu hiện của một nỗi sợ hãi và tín
hiệu này có thể lây lan khắp các chủng loại cùng loài.
Có trường hợp các loài khác nhau sử dụng
thông tin một cách lừa lọc. Ví dụ, những con đom
đóm cái đang bị đói của một loài có thể bắt chước
các tín hiệu lập lòe mà con cái của một loài khác
thường phát ra khi đáp lại tín hiệu tình cảm. Bằng
cách đó, chúng có thể lừa con đực của loài khác
cùng họ tấn công và ăn thịt.
Động vật tự ch ữ i bệnh n h ư thể nầc?
Đời sống của mỗi loài động vật khó tránh khỏi
được việc bị thương hoặc nhiễm bệnh. Vậy chúng
chữa lành vết thương và bệnh tật bằng cách nào?
8
Tự bản thân mỗi loài củng chính là bác sĩ.
Chúng có thể tự chữa trị bệnh được cho mình và
củng biết được một số loại cây, hạt, quả khi ăn vào
sẽ khỏi bệnh. Ví dụ: những chú khỉ trong rừng
nhiệt đới bị mắc bệnh sốt rét. Chúng có thể tự
chữa cho mình bằng cách gặm vỏ cây Canh-ki-na
vừa đắng vừa chát, vì trong vỏ loại cây này có
thành phần có thể chữa được bệnh sốt rét. Loài
vượn tay dài, sau khi bị thương, nó nhai vụn lá của
cây thơm, vê thành viên và nhét vào miệng vết
thương để chữa lành. Gấu xám châu Mỹ đến già
vẫn thích ngâm mình trong dòng suối nước nóng
có chứa lưu huỳnh để dưỡng sinh. Con mi lộc bị
đau bụng tiêu chảy sẽ đi gặm những cành cây non
và vỏ cây, bởi bên trong có chứa thuốc thuộc da
Động vật
9
và chế mực, có tác dụng ngừng' tiêu chảy. Mèo
hoang khi bị ngộ độc sẽ chạy đi tìm một loại cỏ lau
có vị đắng, sau khi ăn sẽ nôn oẹ ra hết. Đó là do
cỏ lau có một loại kiềm sinh vật, có tác dụng đẩy
chất độc ra ngoài.
Động vật không những có thê tự chữa bệnh cho
mình, mà trên người chúng còn ân chứa nguồn
dược liệu như: sừng tê giác là dược liệu giải nhiệt
quý, mai rùa có thể chữa bệnh sốt phát cuồng,...
còn rất nhiều loài dộng vật khác có các phương
thuốc chữa bệnh phong phú.
Vì sao bù tót tại nổi xung
khi thấy m àu đỏ?
Chúng ta dễ dàng thây ở đấu trường, hễ võ sĩ
cầm tẩm vải đỏ vung lên là con bò liền nổir xung
và lao về phía tấm vải. Phải chăng nó râd ghét
màu đỏ?
Thực tế, mắt của nó không nhìn được hết các
màu trong dải quang phổ ánh sáng như mắt người.
Màu cao nhâT trong dải quang phổ mà nó có thể
nhìn được là màu cam.
Nguyên nhân sâu xa nằm ở động tác ve vẩy
chiếc khăn của đấu sĩ. Nếu mắt người chỉ mở tối
10
đa được 170 độ thì mắt bò lại có thê nhìn được góc
330 độ. Do vậy, mặc dù hai mắt của bò nằm ở hai
bên nhưng nó vẫn có thể nhận biết được mọi thứ
diễn ra trước mặt. Khi bị dồn vào góc trường đấu,
phải đối diện với tấm vải ve vẩy trước mặt như
khiêu khích, nó liền lao vào chiến dấu. Các nhà
khoa học cho rằng hành dộng đó của bò tót là
nhằm bảo vệ lãnh thổ của chúng.
Khi vé bị vở, ẽc sen sè lúm g ì?
vốn là vua trong lĩnh vực tự làm lấy, Ốc sên có
thể dễ dàng sửa chữa những hư hại trên vỏ của
mình, mặc dù với vận tốc rất chậm của ốc sên.
Động vật
11
Tiến sĩ Georges Dussart, thư ký danh dự của
Hội nghiên cứu động vật thân mềm của London
giải thích: "Ôc sên tạo ra vỏ bằng cách xây dựng một
ma trận prôtêin trên lưng và sau đó phủ lên một lớp
vôi vừa cứng vừa có tính chất bảo vệ".
Chúng có thể lập lại quá trình này để vá một
cái lỗ trên vỏ. Nhưng có thể phải mcất đến vài tuần
vì ốc sên sống trên mặt đất phụ thuộc vào vỏ để
giữ độ âm cơ thể, nếu hư hại quá nghiêm trọng,
chúng sẽ bị khô và chết đi trước khi việc sửa chữa
hoàn tất.
Vì sao chuột chũi sợ ánh m ặt trùi?
Chuột chũi rất ít khi đào hang, làm tổ dưới lớp
đất sét hoặc đất cát. Chung quanh tổ của chúng có
dường hầm, 4 bôn liền nhau. Do trong hang luôn
ẩm ướt nên giun đất, nhện, rết, sên dễ dàng sinh
sôi, trở thành món ăn cho chuột chũi.
Chuột chũi lúc nhỏ mắt hãy còn mở rất to, khi
cơ thể lớn dần lên, mắt dần bé đi, cuối cùng thì lặn
sâu vào dưới da, thị lực hoàn toàn thoái hóa. Lúc
đó nó chỉ có thể phân biệt rất ít về sự sáng tối.
Những đặc điểm câu tạo này được hình thành do
sự thích nghi sông lâu dài với môi trường thiếu
ánh sáng trong lòng đất.
12
Vì chuột chũi qua một năm không lên trên đất,
cái chính là không tiếp xúc với ánh sáng, cho nên
không quen với sự chiếu sáng của Mặt Trời. Thân
nhiệt của chuột chũi cao hơn thân nhiệt của người
2°c - 3°c. Trong cơ thê nó không có câu tạo thích
nghi với sự tỏa nhiệt, nếu bị ánh sáng mặt trời
chiếu thẳng vào cơ thể, làm nhiệt độ cơ thể biến
đổi lớn, tần số hô hâp của nó sẽ tăng lên. Nếu ra
ánh sáng lâu, nó sẽ rơi vào trạng thái hôn mê,
nóng, và có thể chết.
Động vật có nám nw Hhùng?
Qua quá trình nghiên cứu sâu hơn nữa, các nhà
nghiên cứu nhận thấy khi động vật ngủ, đại não
có thể phát ra sóng điện từ giống như não người,
do vậy động vật cũng có thể nằm mơ. Có loài nằm
mơ nhiều, thời gian dài, có loài nằm mơ ít, thời
Động vật
13
gian ngắn hơn. Ví dụ, sóc và dơi thường nằm mơ,
cỏn loài chim lại mơ tương đối ít, động vật bò sát
hầu như không bao giờ nằm mơ. Điều này có thể
liên quan đến việc bâd cứ lúc nào chúng củng phải
giữ cảnh giác đối với kẻ thù, để có thể kịp thời
chạy thoát.
Làm thể nào có thể pỉiăn biệt
răn đực và rãn cái?
Quan sát thông thường, đuôi của rắn đực
lớn, đồng thời phần sát hậu môn phình to ra,
đó nhỏ dần; còn đuôi của rắn cái ngắn và từ
môn xuống phần sau nhỏ thót lại. Sự khác biệt
khá
sau
hậu
này
là bởi vì rắn đực ở chỗ gần hậu môn có một đôi
cơ quan tiếp xúc, về mặt giải phẫu học gọi nó là
bán dương vật.
Sự tồn tại của bán dương vật đã dẫn đến sự
khác biệt rõ ràng ở chỗ hậu môn giữa rắn đực và
rắn cái. Vậy thì, trực tiếp kiểm tra bán dương vật
chính là một phương pháp phân biệt giới tính hiệu
quả nhất. Đừng cho rằng phải mổ xẻ rắn ra mới có
thể nhìn thấy bán dương vật, thực ra, chỉ cần vận
dụng linh hoạt đôi tay của bạn thì có thể làm cho
cơ quan sinh dục giống đực này phơi bày ra hết.
14
Tai sao vcỊ tê giác sau khi lăm xong
lại xoa ỉmn lên ngưtiỉ?
Voi và tê giác phần lớn sống ở vùng nhiệt đới,
chốc chốc lại xuống nước ngâm mình, nhưng sau
khi lên khỏi mặt nước, chúng thường phun lên cơ
thể một thứ bùn nhão hoặc một lớp khá dày nước
bùn loãng, kết quả là người bẩn vẫn hoàn bấn.
Chúng có dại dột không nhỉ? Không. Kỳ thực,
lớp bùn đó sẽ là "tấm màn” chống muỗi cho voi.
Tuy da của voi và tê giác rất dày, nhưng ở giữa
các nếp gâ'p của da lại có nhiều chỗ là da non
mỏng mềm, không thể chống lại vô số côn trùng
hút máu như: muỗi, ruồi càng cua, ruồi trâu. Các
loại côn trùng này rất thích chui vào các nếp gấp
của da động vật đẳng nhiệt cỡ lớn như voi và tê
giác, ra sức cắn và châm chích, khiến những con
vật to lớn đó vừa đau vừa ngứa.
Hơn nữa, động vật đẳng nhiệt sau khi tắm xong
thì mạch máu dưới da nở ra rất to so với bình thường,
bốc mùi tanh hôi, hâp dẫn côn trùng hút máu. Voi và
tê giác cũng gặp phải tình trạng đó. Vì vậy, đê tránh
phiền toái, chúng bôi bùn nhão và nước bùn loãng để
mong lấp kín những vết nhăn trên da, hình thành
màng bảo vệ mình khỏi nhừng kẻ không mời mà
đến. Mặt khác, khi vừa lên khỏi mặt nước, da dẻ còn
đang ướt, đắp ngay bùn lên da mới dễ dính.
Động vật
15
Vì sao ngài lãm d ẻ irứ n gxm g
lủ chểi ngay?
Hầu hết loài vật đều sinh sản và đợi con non
cứng cáp rồi mới chết. Nhiều loài còn đợi được
đến các thế hệ cháu chắt sau lủ lượt ra đời. Thế
nhúng, ngài tằm vừa đẻ trứng xong là chết ngay.
Tại sao lại như vậy?
Khi con ngài bay bổng trên bầu trời, ấy là nó
đã trải qua một "kiếp" tằm. Tằm ăn lá, nhả tơ,
quân kén, rồi thành ngài. Khi đó, nó đã ở giai
đoạn cuối cùng của một đời sống sinh vật. Lúc
này, miệng của nó đã bị thoái hóa, không thể ăn
được gì nữa.
Trong khi mang trứng, ngài đã dự trữ khá
nhiều chất dinh dưỡng cho sứ mệnh cuối cùng của
nó - sứ mệnh truyền giống. Khi đẻ trứng, nó bị kiệt
sức rất nhanh. Và khi quả trứng cuối cùng ra đời,
nó lặng lẽ giã từ sự sống. Đó cũng là định mệnh
của họ hàng nhà tằm.
Tại S(W mội s ê loài thú lại có túi?
ớ phần lớn loài động vật có vú, khi con non
còn trong bụng mẹ, nó được nuôi dưỡng bởi
nhau thai. Bộ thú có túi không có cơ quan này,
16
nên con non cần một "chiếc túi" của mẹ để tiếp
tục lớn lên trong đó.
Ngay khi sinh ra, những con kanguru nhỏ bò
theo lớp lông mao sát với da để chui vào chiếc túi
ờ trước bụng mẹ nó. Ở đó, có những cặp vú, và
con thú non bú sữa mà không sợ hãi gì cả. Sữa
chảy trực tiếp vào ống tiêu hóa của chúng. Phải 7
tháng sau, những con non của lứa tiếp theo mới
được sinh ra. Khi đó, lứa đầu đã đủ cứng cáp để
rời khỏi túi, ra sống ở bên ngoài.
Phần lớn bộ thú có túi, như kanguru và gấu túi,
có chiếc túi mở về phía trước. Nhưng ở những
giông phải đào bới thì ngược lại, chiếc túi lại mở
về phía sau, khiến đất bẩn không thể lọt vào được
khi con vật đào hang.
Động vật
17
Tại sao chân hôi?
Chồn có hai tuyến dịch hôi ở phía dưới đuôi.
Thứ "mùi đuổi khách" này chính là vũ khí tự vệ
của chồn. Gặp kẻ thù, nó chỉ cần phóng ra một
tia chất dịch đó, địch thủ chịu hết nổi, đành phải
từ bỏ.
Một tia bảo vệ như vậy có thể bắn xa 3m. Chồn
bắn lúc tia này, lúc tia kia, thậm chí cả hai tia cùng
lúc. Mỗi tuyến hôi có thể bắn 5 - 6 phát về phía kẻ
thù. Sức mạnh của các tia chứa mùi khó chịu đó
không hề gây thương tích, cũng không có sức thẩm
thâu vào cơ thể địch thủ, nhưng chúng sẽ khiến đối
phương ngạt thở. Nếu bị bắn trúng mắt, địch thủ có
thể bị sức mạnh của tia làm mù tạm thời. Tuy nhiên,
chồn hôi thường cảnh báo đối phương ữước rồi mới
ra tay. Trước khi "phóng hoả tiễn", chồn cong đuôi và
giậm chân để kẻ lạ mặt có thời gian rút lui.
Chồn rất có lợi cho mùa màng bởi nó bắt toàn
những con vật gây hại như: châu chấu, dế, chuột,...
Mặt khác, chồn có bộ lông dày, có thể làm áo ấm
rất tốt. Bởi thế, người ta thường lập trại nuôi chồn.
Động vật nao m à giong đực sinh con?
Theo quy luật tự nhiên, chỉ giống cái mới sinh
con, nhưng loài cá ngựa biển - còn gọi là hải mã
18
lại đi ngược với quy luật ấy. Cứ đến mùa động
đực, bên sườn cá ngựa đực hình thành những nếp
nhăn và dần phát triển thành chiếc túi nuôi con.
Cá ngựa cái sẽ phóng trứng vào chiếc túi ấy, mỗi
đợt khoảng 100 trứng. Trứng sẽ hóa thành bào
thai. Trên thành túi nuôi con của cá ngựa đực xuât
hiện rất nhiều mạch máu nổi, nối liền với mạch
máu các bào thai nhằm cung cấp dưỡng chất cho
chúng. Đến lúc trứng nở thành cá ngựa con thì cá
ngựa đực "vượt cạn".
Theo các nhà nghiên cứu, môi trường sống của
cá ngựa là vùng đáy biển nông, rất phức tạp và
thường xuyên đối mặt với nhiều nguy hiểm. Chính
nhờ tập tính sinh sản khác thường này mà cá ngựa
mới đảm bảo tối đa cho việc truyền giống.
Tạỉ sao đại đa s ẽ cá có
lưngđert bụng trăng?
Đại đa số cá có da ở lưng sẫm hơn rất nhiều so
với phần bụng. Các loài cá nước ngọt như: mè,
chép, trắm đen,... đều có phần lưng màu xám đen.
Còn lưng của những loài sống ở biển như cá mập,
cá thoi,... thì thậm chí đen tuyền. Ngoài ra, bất kể
là cá nước ngọt hay là cá nước mặn, phần bụng
hầu như đều là màu trắng hoặc màu xám nhạt.
Động vật
19
Tại sao phần bụng và phần lưng của cá lại có sự
khác biệt lớn như vậy? Nguyên do là cá sinh sống
ở trong nước, khi bơi thường là lưng hướng lên trên,
bụng úp xuống dưới. Khi có ánh sáng mặt trời, từ
dưới nước nhìn lên thì mặt nước là một mảng sáng
loáng, râ"t giống với màu trắng của bụng cá. Do đó,
những con cá lớn ở dưới sâu rất khó phát hiện ra
con mồi. Cũng với quy luật như vậy, từ trên nhìn
xuống, màu sắc của nước rất thẫm, gần giống với
màu sắc của lưng cá, các loài chim săn mồi khó có
thể nhìn thây cá bơi trên mặt nước.
Tóm lại, màu sắc lưng thẫm, bụng nhạt của đại
đa sô" các loài cá là kết quả của sự thích nghi với
cuộc sống trong nước, bảo vệ bản thân khỏi bị kẻ
địch phát hiện.
V/ sao tao tỉè có thể tâẻ lưũi
dũi gấp
6 tẩn cơ th ể cùa nó?
Lưỡi tắc kè rất linh hoạt nhờ các sắp xếp đặc
biệt của những sợi cơ lưỡi "siêu co giãn", tắc kè có
thể dễ dàng phóng lưỡi ra và thu lưỡi lại. Trước
khi bắn, bao giờ tắc kè cũng rút lưỡi về sâu trong
miệng để "nạp năng lượng". Chính nhờ khả năng
co giãn đặc biệt này, những "phát đạn" do lưỡi bắn
ra đủ mạnh để làm tê liệt những con mồi lớn.
20
Các sợi cơ của lưỡi tắc kè gấp nếp nhiều lần. Vì
vậy, nó có thể bắn lưỡi ra dài đến 60cm. Tuy
nhiên, với những con mồi ở khoảng cách sát gần,
tắc kè hoa tỏ ra bất lực, vì "chiếc lò xo" lưỡi của nó
phóng ra không đủ mạnh.
Trước đó, các nhà khoa học đã phát hiện ra
những cơ tương tự ở một số loài sâu bọ, nhưng đây
là lần đầu tiên họ tìm thấy ở một động vật có
xương sống.
Màt thú ăn thự Khác mát thú ăn cỏ
n h ư th ẽ nức?
Nếu để ý, bạn sẽ nhận thấy một hiện tượng rất
thú vị. Với các loài thú ăn thịt như: sư tử, hổ, báo,
Động vật
21
chó sói,... mắt của chúng đều nằm phía trước phần
mặt, còn vị trí mắt của các loài thú ăn cỏ như: trâu,
ngựa, dê,... lại ở hai bên.
Đây có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên?
Không phải, điều này có liên quan mật thiết với
phương thức sinh sông của chúng.
Các loài ăn thịt trong tự nhiên đều là những kẻ
tấn công chủ động, tích cực. Một khi đã phát hiện
thấy con mồi, chúng sẽ nhanh chóng truy đuổi.
Trong quá trình này, chúng không những cần cơ
đùi khỏe, một cái miệng rộng với hàm răng sắc
nhọn, mà còn phải dùng đến đôi mắt để quan sát
chăm chú mục tiêu, ước lượng chính xác khoảng
cách. Chính vì thế, mắt ở phía trước mặt sẽ tạo
thuận lợi cho quá trình săn đuổi này.
Các loài động vật ăn cỏ lại không giống như
vậy. Số phận của chúng là dễ trở thành mồi ngon
cho các loài ăn thịt bất cứ lúc nào. Vì thế, mắt hai
bên sẽ tạo ra tầm nhìn rộng rãi (có con có tầm nhìn
tới 360 độ), giúp chúng nhanh chóng phát hiện ra
kẻ địch và chạy trốn.
Vượn và khỉ tuy không hung dữ như các loài
thú ăn thịt, nhưng cũng có mắt mọc ở chính trước
mặt. Đó là vì câu trúc này có lợi cho chúng trong
việc xác định khoảng cách giữa các cành cây. Từ
đó, chúng có thể nhanh chóng lẩn tránh kẻ thù.
22
Gâu trúc tuy ăn tre, trúc nhưng lại có đôi mắt
mọc ở phía trước. Đặc điểm này là do chúng thừa
kế được từ tổ tiên - những động vật chuyên ăn thịt.
Vì sao cá có m ài tanh?
Hầu hết các loài cá đều có mùi tanh, đặc biệt
là cá biển, mùi tanh rất nồng. Đó là bởi trong da
của cá có một tuyến niêm dịch. Nó tiết ra chất
niêm dịch đặc biệt, gọi là chất amin tam giáp, có
mùi tanh đặc trưng.
Trong nhiệt độ bình thường, chất amin tam giáp
rất dễ phát tán vào không khí. Cho nên người ta
thường ngửi thấy mùi tanh.
Vì sao cá nổi lẽn chìm xuẽng d ê dầng?
Loài cá có chiếc bong bóng trong bụng luôn
chứa đầy không khí. Sự thay đổi áp suâT của bong
bóng giúp chúng điều chỉnh vị trí dễ dàng. Không
khí được nạp vào bong bóng theo hai con đường:
hoặc là cá nổi lên mặt nước, lấy không khí trực
tiếp qua đường khí quản rất nhỏ ở đầu, hoặc
chúng lấy không khí ngay trong nước qua các tế
bào đỏ ở mang.
Động vật
23
Các loài cá điều chỉnh vị trí trong nước chủ yếu
nhờ vào việc làm thay đổi áp suâT không khí trong
bong bóng (khi muốn nổi lên, nó nạp đầy không
khí vào, muốn lặn xuống, nó lại nhả ra). Đồng thời
với việc này, cá cũng sử dụng các động tác quẫy
đuôi rất mạnh, cộng với việc đớp đầy một lượng
nước vào miệng rồi nhả qua hai mang, tạo thành
một lực phản lực đẩy nó bơi lên hoặc lặn xuống
Tất nhanh chóng.
Ở từng độ sâu khác nhau, cá điều chỉnh dung
lượng không khí trong bong bóng để cân bằng tỉ
trọng của cơ thể với mật độ của nước, nhằm giữ
thăng bằng. Tất nhiên những chiếc vây cũng có tác
dụng quan trọng trong động tác giữ thăng bằng
của cá: vây lưng, vây bụng, vây ngực và vây hậu
môn giúp cho cá không bị ngả nghiêng.
ctiất nhớt trên m ình cá có lác đụng g ì?
Trên da của loài cá có một tuyến chất nhờn, tế
bào trong tuyến dịch nhớt này có thể tiết ra rất
nhiều dịch nhớt, dịch nhớt phủ trải khắp mình cá,
tạo thành một lớp dịch nhớt, khiến cho lớp da của
chúng vô cùng nhẵn bóng.
Tác dụng của dịch nhớt này râT lớn! Nó có tác
dụng bảo vệ cơ thể cá, phòng ngừa sự xâm nhập
24
của vi khuẩn, vi khuẩn độc, ký sinh trùng và các
sinh vật nhỏ bé khác. Ngăn chặn các vật chất có
hại tiến vào cơ thể, để đảm bảo sự sinh tồn bình
thường của cá.
Đối với một sô" loài cá mà nói, dịch nhớt còn là
một công cụ hữu hiệu để thoát khỏi cái chết. Ví dụ
như ở bề mặt cơ thể của cá nheo có một lớp dịch
nhớt khiến cho kẻ thù rất khó bắt được nó. Cá
trạch cũng nhờ chất dịch nhớt mới có thể luồn lách
dễ dàng trong nước bùn được.
Dịch nhớt còn có thể giúp cho loài cá sinh sôi.
Vào mùa sinh sản, các loài cá đực dùng dịch nhớt
dính các thực vật để tạo thành hang cá. Có loài cá
đực lại dính những bọt khí đã được thổi ra ngay
trên chất nhớt tạo thành khối bọt, mục đích là để
cho cá cái dễ dàng đẻ trứng đồng thời trứng được
thụ tinh.
Động vật
25
Loài cứ thỏ n h ư th ễ núc?
Cá hô hấp bằng mang, chúng lấy ôxy trong
nước, rồi ôxy sẽ chuyển đến các mạch máu chứa
trong mang.
Mang cá giống như một chiếc lá ở trong hai
"khe” từ đáy miệng đến tận ngoài. Miệng của các
khe này được bảo vệ bởi hai nắp mang.
Khi cá há miệng, nắp mang khép lại, nước được
đưa vào khoang miệng. Khi miệng cá khép lại, nắp
mang lại được mở ra, nước ùa vào trong mang.
Trong miệng có các nắp van ngăn nước chảy ngược
trở lại.
Mang cá ở sát da có nhiều mạch máu. Khi
nước làm ướt chúng, ôxy chuyển từ nước vào
máu và khí Cacbonic cũng được chuyển từ máu
vào trong nước.
Tại S(W cứ chịu được áp suất C(W dưới sáu?
Tất cả các loài cá đều có áp suất bên trong cân
bằng với áp suất bên ngoài cơ thể. Điều này đúng
cả với các mô và bong bóng đầy khí ở chỗ rỗng
trong bụng mà rất nhiều loại cá có.
Chúng chỉ gặp rắc rối khi phải thay đổi độ sâu
rất lớn. Nếu bơi lên thường xuyên chúng có thể
26
thở để tạo ra cân bằng. Còn nếu lặn xuống râ't sâu
cơ thể chúng có thể xẹp lại.
Hầu hết, các loài cá nước sâu không có túi bóng
khí, điều này rất tốt cho chúng bởi vì khí giãn nở
nhiều hơn mô và chất lỏng nhiều lần.
Cá său ăp trứng n h ư ttiể nào?
Cá sâu nhỏ mới nở dài khoảng 8cm, có thể tìm
thấy ở ao đầm, sông ngòi, cửa sông cạnh vùng
đầm lầy khu vực nhiệt đới. Khi đến kỳ trứng nở,
cá sấu mẹ sẽ đào xới đất, để khi cá sâu con phá
vỏ trứng chui ra có thể dễ dàng chui lên mặt đất.
Động vật
27
Tại sao nhìn vẩy cá có thể
biết tuổi của chúng?
Muốn biết tuổi của cá, thông thường chỉ cần
bóc một cái vẩy từ trên thân cá, quan sát tỉ mỉ thì
có thể thấy ngay. Tại sao nhìn vẩy cá thì có thể
biết tuổi của cá?
Từ trong quy luật sinh trưởng của cá, đại đa số
cá năm đầu tiên bắt đầu cuộc đời thì toàn thân
chúng đã mọc đầy vẩy. v ẩ y là do nhiều tấm mỏng
to nhỏ khác nhau tạo thành, giống như một hình
nón thấp bị cắt mất chóp không quy tắc lắm, ở giữa
dày, bên trên mỏng, lớp phía trên cùng là nhỏ nhất,
nhưng là già nhất; lớp phía dưới cùng to nhẩt
nhưng là trẻ nhất. Khi vẩy lớn lên thì trên bề mặt
của nó có tấm mỏng mới mọc ra, cùng với sự gia
tăng của tuổi cá, số tấm mỏng cũng không ngừng
tăng lên.
Trong bôn mùa của một năm, tốc độ sinh
trưởng của cá không giống nhau. Thông thường,
mùa xuân và hạ sinh trưởng nhanh, mùa thu sinh
trưởng chậm, mùa đông lại ngừng sinh trưởng,
mùa xuân năm thứ hai lại khôi phục sinh trưởng.
Vẩy cá cũng như vậy, phần mọc ra vào mùa xuân,
hạ tương đối rộng, phần mọc ra vào mùa thu
tương đối hẹp, mùa đông lại ngừng sinh trưởng.
28
Tấm mỏng rộng hẹp không giống nhau xếp lại với
nhau có thứ tự, bao quanh trung tâm từng cái nối
tiếp nhau, hĩnh thành nhiều vòng, gọi là "vòng
năm sinh trưởng", s ố vòng năm sinh trưởng vừa
vặn phù hợp với số năm mà loài cá đã trải qua.
Tấm mỏng rộng được mọc ra vào mùa xuân, hạ
xếp thưa thớt, tấm mỏng hẹp được mọc ra vào
mùa thu xếp dày đặc, giữa 2 loại này có ranh giới
rất rõ ràng, là sự phân chia ranh giới giữa vòng
sinh trưởng năm thứ nhất và vòng sinh trưởng
năm thứ hai, gọi là "vòng đời". Cá có vòng đời
nhiều thì tuổi lớn, cá có vòng đời ít thì tuổi ít.
Điêu g ì gỉúp cá tiec bơi cực nhanh?
Sau nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học cho
biết, sở dĩ cá heo bơi nhanh vì lớp da của nó có cấu
tạo đặc biệt, làm giảm tối đa lực cản của nước.
Khi giải phẫu cá heo, các nhà khoa học phát hiện
bề mặt da của nó chia làm 3 lớp: màng ngoài làm
bằng chất sừng nhẵn rất mỏng, rồi đến biểu bì và
chân bì. Trên chân bì mọc ra vô số mấu ruột rỗng,
tựa như những ống tròn nhỏ "cắm" trong lớp biểu bì
màu đen. Những ống này đàn hồi rất tốt, có thể triệt
tiêu phần lớn lực cản của nước, do đó cá heo có thể
di chuyển dưới đại dương với tốc độ đáng nể.
Động vật
29
Mô phỏng cấu trúc da cá heo, người ta đã chế tạo
ra loại cao su đặc biệt, giàu tính đàn hồi. Bên trong có
vô số ống ruột rỗng nhỏ và có đường Ống thông giữa
các ống rỗng này, dẫn một loại dịch nhớt chảy lên bề
mặt. Kết quả là trên bề mặt cao su có một màng
mỏng, trơn nhẵn, có sức co dãn, làm giảm bớt lực ma
sát với nước. Nhờ vậy, tàu ngầm phủ loại màng mỏng
này có thể giảm bớt lực cản do dòng nước sinh ra.
Tạỉ sao thịt cá biên hhởng m ặn?
Trong biển khơi có vô vàn các loài cá sinh sống,
trong đó có rất nhiều loài cá là món ăn ngon được
mọi người ưa thích. Nước biển vừa mặn lại vừa
chát, có chứa thành phần muôi lớn. Cá dưới biển
luôn uống nước biển, thành phần muối sẽ thẩm
30
thấu vào cơ thể cá, thế nhưng tại sao thịt của cá
biển lại không bị mặn?
Cá sống trong nước biển có thể phân thành 2
loại lớn: Loài cá xương cứng và loài cá xương mềm.
Trong mang của loài cá xương cứng có một loại
tế bào có tác dụng đặc biệt, gọi là tế bào tiết ra
muối. Tế bào tiết ra muôi có thể tiết ra thành phần
muối, chúng có thể thu hút thành phần muối ở
trong máu, sau khi cô đặc, chúng tiết muối ra
ngoài cơ thể cùng với dịch nhớt. Các tế bào tiết ra
muối này luôn làm việc với hiệu suất cao nên cơ
thể cá luôn giữ được thành phần muối thấp.
Việc các loài cá xương mềm trong nước biển giữ
cơ thể có thành phần muôi thấp là cả một khả
năng. Thường trong máu của các loài cá này có
chất urê nồng độ cao, khiến cho nồng độ máu cao
hơn nồng độ nước biển, như vậy có thể giảm thiểu
sự ngấm vào của thành phần muối, vì vậy thịt của
chúng vẫn luôn không bao giờ bị mặn.
CÓphdỉ tất cả các lcủỉ cá mập
đêu ăn thịt người?
Không phải tất cả các loài cá mập đều tấn
công con người, chỉ có vài chục loài, trong số đó
Động vật
31
là cá mập trắng, cá mập xanh, cá mập hổ, mới
chọn con người làm đối tượng tấn công. Đáng sợ
nhất phải kể đến cá mập trắng với chiều dài cơ
thể bằng một chiếc xe bus. Ngoài con người,
không có loài động vật nào săn bắt được chúng.
Lực cắn của bộ hàm cá mập trắng gâp 300 lần con
người, có thể dễ dàng cắn đứt đôi con mồi. Vì
thói quen thích săn đuổi con người và các loài
động vật khác mà chúng còn được gọi là "cá mập
ăn thịt người".
Cá nhám kình lú cá g ì?
Cá nhám kình được coi là "người khổng lồ"
trong các loài cá mập dài trên lOm. Trọng lượng
lớn nhất lên tới 10 tấn. Tuy cơ thể to lớn nhưng
chúng lại rất hiền hòa. Chúng thường thích lặng lẽ
phơi nắng trên mặt biển hoặc từ từ há miệng nuốt
những loài giáp xác động vật thân mềm trôi nổi
trong nước.
Tại sao có loài cá có vấy, có loài khùng?
Đa số loài cá trên mình đều có một lớp vẩy
cứng bao bọc. v ẩy là vật phát sinh của da cá, có
chức năng bảo vệ cơ thể của cá, nhưng có một số
32
loài trên mình không có vẩy vì vẩy của chúng đã
bị thoái hóa. Lớp vẩy trên mình cá chình bị thoái
hóa thành lớp da mỏng, có rất nhiều mạch máu
nhỏ để hỗ trợ hô hâp. Cá có vẩy hay không là do
trong quá trình phát triển, chúng thích nghi với
môi trường tự nhiên mà hình thành nên.
Tại sao lợn thích đãi váoh và ăn đất sét?
Những chú lợn được người nuôi, chỉ ăn rồi ngủ.
Nhưng thỉnh thoảng nó chẳng chịu như vậy mà
luôn dũi vách, gặm tường. Chẳng biết nó muốn
tìm cái gì?
Tổ tiên của lợn sống nơi hoang dã, thường phải
dùng mũi ủi đất kiếm ăn. Bởi vậy, mũi của chúng
râ't cứng và răng râ't sắc. Đi kiếm ăn, lợn thường
Động vật
33
ăn cả rễ cây và củ dính đất sét. Trong đâ't sét có
nhiều chất khoáng như: phốtpho, canxi, côban, sắt,
đồng mà cơ thể nó rất cần. Nay dù được người
nuôi và bị thuần hóa từ lâu nhưng nó vẫn chưa bỏ
thói quen ủi, dũi xưa kia, thỉnh thoảng dũi tường
vách thấy miếng đất nào "ngon" là theo thói quen
cũ, lợn có thể "xơi" luôn.
\>ì S(W cng cỉuiũ sông láu
gấp 10 lẩn ong thương?
Trong đàn thường có 3 loại ong: Thứ nhâ't là
ong thợ. Đó là những con cái không có khả năng
sinh đẻ. Chúng chiếm sô' lượng nhiều nhất trong
đàn, và chuyên đảm nhận những công việc nặng
nhọc như xây tổ, kiếm mồi, chăm sóc ong con,
chống kẻ thù. Loại thứ hai là ong đực. Chúng cũng
phải kiếm ăn và xây tổ, nhưng ít nặng nhọc hơn
ong thợ. Và thứ ba là ong chúa.
Trong đàn chỉ có ong chúa là có quyền đẻ trứng.
Vì thế, nó được nâng niu và bảo vệ râ't cẩn thận. Khi
các con khác phải đi kiếm thức ăn thì ong chúa chỉ
nằm trong tổ. Nó được cung phụng loại mật hoa
ngon nhâ't. Cho dù cả đàn ong phải nhịn đói thì ong
chúa vẫn no đủ. Cả cuộc đời, ong chúa hầu như
không phải chạm trán với kẻ thù. Có lẽ vì vậy mà
34
ong chúa có thể sống hết tuổi thọ của nó (5 - 6 năm),
trong khi cằc con ong khác chỉ sống được 6 tháng
đến một năm mà thôi.
Vì S(Wrăn có thê nuẾi cm môi
ICgấp nhiêu lần đáu nó?
Khả năng này nằm ở cấu tạo miệng của nó.
Miệng của người chỉ có thể mở to đến 30 độ, còn
rắn thì đến 130 độ. Nguyên do là đầu rắn và các
xương hữu quan mở khép không giống như các
động vật khác, cằm rắn (hàm dưới) mở rất rộng
xuống phía dưới, vì đầu rắn nối với mây cái xương
ở cằm, có thể cử động được, không giống với các
động vật khác là gắn chặt với xương đầu, c ố định
không cử động. Hơn nữa, các xương của bộ hàm
đều khớp với nhau, không những xương hàm mà
xương khẩu cái, xương cánh, xương ngang đều nối
với nhau bằng dây chằng rất đàn hồi, có thể mở
rộng ra hai bên, vì vậy miệng rắn không những có
thể mở ra thật to, mà còn mở được ra hai bên phải
trái không bị hạn chế, do vậy rắn có thể nuốt
những con mồi to hơn gâp nhiều lần miệng nó.
Dù cho kiểu miệng của rắn rất khéo, nhưng
trước khi nuốt thức ăn, loài bò sát này còn phải
đem con mồi đã bắt gia công một phen. Nó bóp
Động vật
35
nặn thành sợi dài, khi nuốt nhờ răng hình móc câu
giúp đưa thức ăn vào họng. Ngực rắn không có
xương mỏ ác xuyên tới xương sườn, nên xương
sườn có thể tự do cử động. Vì vậy, thức ăn từ hầu
xuống họng, vào thẳng nơi da bụng có thể phình
to, đồng thời rắn còn tiết ra rất nhiều nước bọt,
thật chẳng khác gì cho thêm lượng lớn "dầu nhờn".
Tại sao luõỉ răn lạỉ phan nhánh?
Lưỡi phân nhánh của rắn không chỉ là cơ quan
vị giác, mà còn là một công cụ định vị đặc biệt.
Nhà khoa học Hy Lạp cổ ở thế kỷ IV trước Công
nguyên Yalishiduo cho rằng, lưỡi phân nhánh là rắn
có thể 2 lần thưởng thức vị ngon của thức ăn. Theo
36
lý giải của nhà khoa học Ai Cập cổ: Rắn là loại bò
sát ở những vùng đất bẩn, chiếc lưỡi phân nhánh có
thể giúp nó làm sạch những chất bẩn trong mũi nó.
Người Ân Độ cổ lại nhận định rằng, chiếc lưỡi này
thật tuyệt diệu, giống như chiếc khiên tấn công vào
con mồi, giống như ống nu'ớc hút từ trong ra và có
thể có khả năng thôi miên con mồi. Những cách
nhận xét này vẫn chưa có căn cứ khoa học nào.
Gần đây, nhà động vật học người Mỹ Shiwenke
đã nghiên cứu vân đề này, ông phát hiện ra rằng lưỡi
phân nhánh của rắn không chỉ là cơ quan vị giác, mà
còn là một công cụ định vị đặc biệt. Nó có thể phân
biệt phương hướng cũng giống như 2 tai của con
người, có tác dụng phân biệt được âm thanh từ
hướng nào tới. Rắn dựa vào 2 nhánh cạnh lưỡi để
đảm nhận được thông tin từ con mồi, từ đó có thể
xác định được vị trí con mồi, lập tức truy đuổi. Thử
nghiệm đã chứng minh rằng, nếu như cắt bỏ 2 đầu
lưỡi nhỏ của rắn, nó sẽ mất đi khả năng truy tìm mùi,
thậm chí còn bị lạc hướng, cứ vòng vo trên mặt đất.
Vì sao vịt Hỉiõng sợ nưtic mùa đùng?
Chúng ta biết rằng vịt, ngan là con vật sống lâu
d...
 






Các ý kiến mới nhất