Trường học thân thiện
Chào mừng quý vị đến với Thư viện điện tử phòng GD&ĐT Huyện Quỳ Hợp.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
LSVN bằng tranh - Tập 51: Chúa Hiền - Chúa Nghĩa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:29' 11-03-2024
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:29' 11-03-2024
Dung lượng: 5.9 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Lê Phi Hùng
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Lê Văn Năm
Chúa Hiền chúa Nghĩa / Lê Văn Năm ; minh họa, Lê Phi Hùng. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ,
2013.
94 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.51).
1. Nguyễn Phúc Tần, 1620-1687 -- Sách tranh. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- Nguyễn Phúc
Tần, 1648-1687 -- Sách tranh. I. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Nguyễn Phúc Tần, 1620-1687 -- Pictorial works.
2. Vietnam -- History -- Nguyễn
Phúc Tần, 1648-1687 -- Pictorial works.
959.70272092 -- dc 22
L433-N17
LỜI GIỚI THIỆU
Khi còn là Thế tử, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đã lập
nên nhiều chiến công vô cùng hiển hách: phá giặc Ô Lan ở
cửa Eo, phá quân Trịnh nơi sông Gianh. Nối nghiệp chúa
Thượng, Hiền vương Nguyễn Phúc Tần được xem là người
chăm lo chính sự, chú trọng người tài, xa rời nữ sắc. Không
những vậy, người còn mở mang nhiều vùng đất mới, các
kênh Trung Đan, Mai Xá được khơi đào, phát triển ngoại
thương, bớt lao dịch giảm thuế khóa,... Bờ cõi vô sự, thóc
lúa được mùa.
Chúa Hiền mất, công tử trưởng của chúa Hiền mất sớm,
công tử Nguyễn Phúc Trăn nhận nghiệp lớn. Chúa Nguyễn
Phúc Trăn là người yêu kẻ sĩ, trọng nhân tài và thương dân.
Khi lên kế nghiệp, ngài giảm nhẹ hình phạt, xâu thuế; miễn
một nửa thuế ruộng mới khai hoang. Nhân dân đương thời
thương mến, thường gọi ngài là chúa Nghĩa (chúa Ngãi).
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 51 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chúa Hiền - Chúa Nghĩa”
phần lời do Lê Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do Lê Phi
Hùng thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 51 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Nguyễn Phúc Tần sinh năm Canh Thìn (1620) và
là con trai thứ hai của chúa Thượng Nguyễn Phúc
Lan. Nối ngôi chúa năm 29 tuổi, ông đã góp phần
mở rộng lãnh thổ nước ta về phương nam, khuyến
khích dân khai hoang mở đất, mở mang đường xá,
phát triển kinh tế.
Sau khi ông mất, người con thứ là Nguyễn Phúc
Trăn (có tài liệu khác ghi là Nguyễn Phúc Thái) lên
nối nghiệp, gọi là chúa Nghĩa. Vừa lên ngôi, chúa
Nghĩa đã chọn Phú Xuân làm nơi đặt phủ chúa, xác
định vị trí kinh đô của họ Nguyễn trong hơn 250 năm
và cho cả nước trong gần 1,5 thế kỷ. Năm Tân Mùi
(1691), chúa Nghĩa mất, ở ngôi trong thời gian ngắn
ngủi chỉ có 4 năm.
4
Khi còn là Thế tử, Nguyễn Phúc Tần đã nhiều lần
tham gia chiến trận. Năm 1643, người Hà Lan phái
phái 3 tàu chiến từ căn cứ của họ ở Indonesia sang
giúp chúa Trịnh để chống lại Đàng Trong. Khi nghe
tin tàu của người Hà Lan đến cửa Eo (cửa Thuận
An), Thế tử Nguyễn Phúc Tần đã mang đội thuyền
chiến của mình đến đánh đuổi, một chiếc tàu Hà
Lan không kịp thoát, phải tự đốt tàu.
5
Năm 1642, chúa Trịnh tiến đánh Đàng Trong, chúa Sãi đích
thân cầm quân đánh trận. Tuy nhiên, chúa Sãi nhuốm bệnh nên
giao binh quyền cho Nguyễn Phúc Tần. Đàng Trong đại thắng,
truy kích quân Trịnh tới tận sông Gianh. Trên đường rút quân,
chúa Sãi mất, Thế tử Nguyễn Phước Tần nối ngôi.
6
Lên ngôi chúa, Nguyễn Phúc Tần quyết tâm đương
đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Lo sợ mình bị cám dỗ,
lôi cuốn vào việc ăn chơi hưởng thụ mà các vua chúa
thường mắc phải, ông tập trung tâm trí vào việc củng cố
lực lượng, tăng cường sức mạnh quân sự ở Đàng Trong.
Điều này có lúc biến ông thành người nhẫn tâm.
7
Chúa Hiền có một người cung nữ xinh đẹp tên là Thị Thừa mà
chúa rất yêu mến. Nhưng một hôm, khi đọc chuyện vua nước Ngô
ở Trung Quốc say đắm Tây Thi nên mất nước, chúa lo sợ mình
lại đi vào vết xe đổ của Ngô vương nên sai người giết chết người
cung nữ này.
8
Để nắm tình hình quân đội, chúa Hiền thường tổ chức những
cuộc duyệt binh để nắm tình hình quân đội, đánh giá khả năng
chiến đấu của binh lính. Năm 1653, chúa tổ chức một cuộc duyệt
binh lớn ở An Cựu (gần Huế), kiểm tra khí giới của binh lính. Ai
giữ khí giới sắc bén thì được thưởng, cùn thì nghiêm phạt.
9
Cuộc duyệt binh có quân số lên đến 22 ngàn người. Nhưng
đây chỉ là số quân ở Chính dinh vì theo tài liệu người Tây
phương ghi lại, bấy giờ, Đàng Trong có đến 40.000 quân. Nếu
so với con số vào năm 1615 (dưới thời chúa Nguyễn Phúc
Nguyên) là khoảng 3 vạn, ta thấy lực lượng quân sự đã tăng
đáng kể.
10
11
Chúa cũng quan tâm nhiều đến việc trang bị
vũ khí của quân đội. Đàng Trong đã đúc được
đại bác, nhất là từ khi người Hà Lan tên Jao da
Cruz (Jean de la Croix) giúp chúa Nguyễn. Một người
Tây phương đã ghi lại: các “khẩu đại bác nặng, dài khoảng
6 mét mang huy hiệu Đàng Trong, trông rất đẹp. Các khẩu
đại bác này được đúc trong khoảng từ năm 1650 đến 1660”1.
Bài Description of Cochichina của Pierre Poivre, trích theo Li Tana,
Xứ Đàng Trong, Nxb.Trẻ, TP.HCM, 1999, tr. 62-63.
1
12
Ngoài ra, chúa Hiền cũng đã nhiều lần tiến hành mua bán vũ
khí với người Tây phương. Năm 1651, chúa gửi 3000kg đồng
sang Ma Cao nhờ người Bồ đúc súng đại bác. Năm 1658, chúa
Hiền đã giao cho Marquez, một thừa sai dòng Tên, mang 10.000
nén bạc sang Ma Cao mua súng.
13
Đợi mãi ko thấy Marquez về, cho là vị thừa sai này cuỗm mất
tiền, chúa rất tức giận. Đúng lúc ấy, tàu từ Ma Cao cập bến. Chúa
mừng rỡ đến độ đã đến cảng Thanh Hà để xem xét,
vuốt ve các khẩu đại bác và lệnh bắn ba phát súng
thần công để chào mừng.
14
Chúa Hiền bắt buộc quân lính thường xuyên luyện tập sử dụng
vũ khí, thi bắn. Chúa lệnh cho các quan văn và các quan làm việc
ở trong phủ chúa cũng phải luyện tập cưỡi ngựa và bắn cung.
Một người Tây phương có nhận xét về khả năng bắn súng của
quân lính Đàng Trong: “Người Đàng Trong bây giờ đã thành
thạo trong việc sử dụng [súng] đến độ họ đã vượt cả người Âu
châu chúng ta. Hàng ngày họ tập bắn...”.
15
Bên cạnh đó, các chúa Nguyễn (và cả các chúa Trịnh) đều có
lực lượng tượng binh hùng mạnh. Theo ghi chép của người Hà
Lan, vào khoảng lúc chúa Hiền mới lên ngôi, số voi chiến của
Đàng Trong lên đến 600 con. Năm 1672, khi nghe tin quân Trịnh
tiến đánh Đàng Trong, chúa Hiền cho điều động ngay 5 cơ voi với
150 voi chiến ra tuyến đầu để phối hợp cùng các lực lượng khác.
16
Chúa Nguyễn Phúc Tần cũng được thừa hưởng một lực lượng
thủy quân hùng mạnh. Khi ông còn là Thế tử cũng đã chỉ huy lực
lượng thủy quân đánh thắng các tàu Hà Lan. Số lượng thuyền
chiến của Đàng Trong có vào thời chúa Hiền có thể khoảng 200
trăm chiếc. Trong khi đó, người Hà Lan cho rằng vào năm 1642,
chúa Nguyễn có 230-240 chiến thuyền.
17
Mỗi chiến thuyền có từ 60
đến 100 người, gồm người
chèo thuyền và lính chiến đấu
và được trang bị 1 khẩu súng
thường, bắn từ 4 đến 10 viên
đạn sắt và 2 khẩu súng lớn.
Binh lính trên thuyền còn được
trang bị giáo và câu liêm có
cán dài năm, sáu mét. Đây là
vũ khí lợi hại khi cận chiến,
họ dùng câu liêm móc
thuyền địch và sau đó nhảy
sang đánh.
18
Ngoài ra, để việc thông tin chiến
sự được nhanh chóng, chúa theo kế
của Nguyễn Hữu Dật, cho đặt các
đồn hỏa hiệu ở các cửa biển Quảng
Bình để khi hữu sự thì đốt lửa làm
hiệu (1655). Các đồn sau theo hiệu
lửa tiếp tục báo tin về kinh đô.
19
Khi mới lên ngôi chúa, tình hình trong
nước còn chưa ổn định, lực lượng quân sự
còn cần phải gây dựng, chúa Hiền không
muốn gây căng thẳng ngay với họ Trịnh. Vì thế
khi ở Thăng Long, vua Lê Chân Tông mất không
người nối ngôi, Lê Thần Tông trở lại ngôi (năm
1649). Mặc dù từ đời chúa Thượng, vua Lê không
còn phong tước cho chúa Nguyễn, chúa Hiền vẫn sai
sứ mang lễ vật ra Thăng Long mừng vua Thần Tông.
20
Tình hình nội bộ Đàng Trong còn bị
bất ổn với âm mưu cướp ngôi của Chưởng
cơ Nguyễn Phúc Trung (em của chúa
Thượng). Trước kia chúa Thượng say
mê nhan sắc của Tống thị. Chưởng cơ
Nguyễn Phúc Trung – em trai chúa
Thượng mưu giết Tống thị để trừ hậu
họa. Tống thị hay tin, nhờ cha liên lạc
xin chúa Trịnh giúp và việc này đưa đến
cuộc chiến Trịnh - Nguyễn năm 1648.
21
Mấy năm sau (1654), Tống thị dùng nhan sắc và sự khéo léo
của mình lung lạc Nguyễn Phúc Trung, xui Trung cướp ngôi
chúa. Nguyễn Phúc Trung nghe theo, cố gắng xây dựng lực
lượng và chuẩn bị đem quân tập kích phủ chúa.
Tuy nhiên
âm mưu này bị phát giác. Nguyễn Phúc Trung
bị
bắt
giam và sau đó chết trong ngục.
22
Trong sự việc này, chúa Hiền
đã có một hành động hết sức
khôn khéo. Có người tìm được
sổ sách ghi tên phe đảng của
Nguyễn Phúc Trung, trong đó có
rất nhiều tôn thất, đem dâng cho chúa
Hiền. Chúa sai đem sổ đốt đi, để làm an
tâm các quan lại, giữ sự trung thành của họ.
23
Sau nhiều năm chuẩn bị, lực lượng quân sự của Đàng Trong
đã hùng mạnh, chúa Hiền nghĩ tới việc đem quân chinh phạt họ
Trịnh. Chúa đắn đo tìm người có tài thao lược để giao cho việc
thống lĩnh quân sĩ. Cuối cùng quyết định giao cho Nguyễn Hữu
Tiến và Nguyễn Hữu Dật. Về việc chọn tướng này, có giai thoại
kể rằng trong lúc còn đang phân vân thì chúa nằm mộng thấy có
thần nhân cho ông một bài thơ trong đó có nhắc đến tước hiệu của
hai tướng này. Vì thế, chúa quyết định giao việc cầm quân cho họ.
24
Nguyễn Hữu Tiến có tài cầm quân còn Nguyễn Hữu Dật là
tướng tài lại đa mưu túc trí, từng có nhiều công trạng trong việc
đối phó với Đàng Ngoài. Tuy nhiên có lần Hữu Dật bị hạ ngục.
Đó là vào năm 1650, khi đang giữ chức Ký lục dinh Bố Chính,
vùng đất tiếp giáp với Đàng Ngoài. Nguyễn Hữu Dật lập mưu
gây tình hình rối loạn trong quân Trịnh. Ông sai tướng sĩ ăn
mặc, mang cờ xí như quân Trịnh len lỏi vào vùng đất do
quân Trịnh kiểm soát. Đồng thời ông viết thư cho tướng
Trịnh giả xin hàng, ước hẹn làm nội ứng. Nếu tướng
Trịnh mắc kế mang quân vào thì sẽ bị quân Nguyễn diệt.
25
Ông tự mình tiến hành công việc mà
không có lệnh của chúa Nguyễn Phúc Tần
hay bàn bạc với các tướng Nguyễn ở Bố
Chính. Thế nhưng việc chưa có kết quả
thì Tham tướng Tôn Thất Tráng, vốn thù
ghét Hữu Dật biết được, gièm pha với chúa
Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật âm mưu làm
phản và trở về Bắc với quân Trịnh.
26
Chúa Hiền liền cho bắt giam Hữu Dật. Trong ngục, Nguyễn
Hữu Dật viết tập truyện Hoa Vân cáo thị để giải bày chí hướng
phò tá chúa Nguyễn của mình và nhờ cai ngục tìm cách dâng lên
cho chúa Hiền. Chúa Hiền xem xong hiểu được tấm lòng của
Nguyễn Hữu Dật nên tha tội và tiếp tục cho làm quan ở Chính
dinh.
27
Đầu năm 1655, tướng Trịnh là Trịnh Đào sai quân đến cướp
phá ở vùng nam sông Gianh. Chúa Hiền quyết định khởi binh
đánh Trịnh.
28
Nguyễn Hữu Dật đến Nam Bố Chính xem xét để
nắm tình hình địch. Ông lập các đài hỏa hiệu ở các cửa
biển Quảng Bình để việc thông tin được nhanh chóng,
lập kho lương ở Trường Dục, các dinh Quảng Bình, Bố
Chính để tích trữ sẵn lương thực, quân nhu.
29
30
Năm 1655, Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật mang
đại binh, vượt sông Gianh đánh vào Bắc Bố Chính. Đây là
cuộc chiến lớn thứ năm trong bảy lần Trịnh - Nguyễn chạm
trán lớn và cũng là lần duy nhất quân Nguyễn tấn công trước.
Trong cuộc chiến lần này, Nguyễn Hữu Dật hiến nhiều mưu
kế giúp quân Nguyễn đánh thắng nhiều trận. Quân Nguyễn
đánh chiếm Hà Trung, căn cứ chính của lực lượng chúa Trịnh
và sau đó đẩy lùi quân Trịnh về cố thủ ở An Trường1 ở phía bắc
sông Lam (sông Cả).
Nay thuộc Nghệ An.
1
31
Nguyễn Hữu Dật nhiều lần làm kế ly gián, gây hiềm khích
trong hàng ngũ quân Trịnh, làm chúa Trịnh nghi ngờ lòng trung
thành của các tướng. Trong hơn 5 tháng, quân Nguyễn chiếm
được một vùng đất rộng lớn của họ Trịnh gồm Bắc Bố Chính và
7 huyện ở phía nam sông Lam. Trịnh Tráng phải sai con là Trịnh
Tạc đem đại quân vào An Trường để chống cự.
Trên vùng đất chiếm được, chúa Hiền tổ chức
bộ máy cai trị và chọn người có văn học, có tài
tại chỗ để bổ làm quan.
32
Việc vận chuyển quân lương đến cho quân lính ở vùng đất mới
chiếm được gặp nhiều khó khăn vì xa xôi và đường xá không
thuận tiện. Để có nguồn cung tại chỗ, chúa Hiền cho lập sổ sách
các hạng dân và thu thuế thân. Thuế
mới lại cao hơn
cả mức thuế thời chúa Trịnh nên
dân chúng ta
thán. Vì thế, Nguyễn Hữu Dật
phải sai người
đi đến các làng, ấp để giải thích là
mức thuế đó
là tạm thời nhằm đáp ứng quân
nhu trong lúc giao tranh mà thôi.
33
Quân Nguyễn, theo kế của Nguyễn Hữu Dật, cho người mang
mật thư ra Đàng Ngoài kêu gọi những người ở Đàng Ngoài nổi
lên chống Trịnh. Mạc Kính Hoàn ở Cao Bằng và nhiều sĩ phu,
quan lại ở Hải Dương, Sơn Tây, Lạng Sơn, Cao Bằng hưởng ứng,
hẹn sẽ nổi dậy khi quân Nguyễn đánh ra Bắc.
34
Chúa Trịnh cũng sai người sang vùng đất
quân Nguyễn đang chiếm giữ đem việc sưu
cao thuế nặng ra kêu gọi dân chúng chống
lại chúa Nguyễn và sai người mang vàng bạc
châu báu vào biếu Nguyễn Hữu Dật, kêu gọi
ông theo về với họ Trịnh. Nguyễn Hữu Dật
báo với chúa Hiền việc này. Chúa Hiền tin
tưởng lòng trung thành của ông. Tuy nhiên
việc này cũng tạo ra mối nghi ngờ giữa các
tướng Nguyễn và khoét sâu mối bất hòa giữa
Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật.
35
Năm 1660, quân Trịnh - Nguyễn giao tranh quyết liệt ở vùng
sông Gianh. Nguyễn Hữu Tiến có ý muốn rút quân về vì thấy
quân lính sau thời gian dài chinh chiến xa nay muốn trở về, lại
thêm số quân lính Đàng Ngoài theo hàng không thể hoàn toàn
tin tưởng được. Tuy nhiên ý kiến này không được Nguyễn
Hữu Dật tán thành.
36
Cuối năm này, quân Trịnh mở cuộc tấn công, Nguyễn Hữu
Tiến bí mật cho quân rút về mà không cho Nguyễn Hữu Dật biết.
Khi Hữu Dật hay tin thì quân Trịnh đã đến gần. Hữu Dật phải
dùng mưu khiến quân Trịnh sinh nghi không dám tiến đánh ngay
và cho quân rút đi. Quân Nguyễn rút về nam sông Gianh đóng giữ
những nơi hiểm yếu để phòng ngự. Quân Trịnh cũng lui về. Từ
đó, vùng đất Bắc Bố Chính lại trở về Đàng Ngoài.
37
Trong trận này, có lần quân Nguyễn đánh ra các huyện ở Nghệ
An, khi rút về đã bắt theo một số dân địa phương. Chúa Nguyễn
đưa họ vào sinh sống, khai phá vùng đất Qui Nhơn. Trong số
những người đó có tổ tiên của ba anh em nhà Tây Sơn sau này.
38
Sau khi quân Nguyễn rút về nam sông Gianh, chú Hiền cử
Nguyễn Hữu Dật làm Chưởng cơ, trấn thủ dinh Bố Chính. Nguyễn
Hữu Dật tích cực lo việc phòng thủ, sửa sang lại thành lũy. Mùa
thu năm 1661, chúa Hiền sai Nguyễn Hữu Dật đắp nối tiếp thêm
lũy Động Hồi (lũy Nhật Lệ) từ cửa An Náu đến núi Chu Thị (gọi
là lũy An Náu), dựng pháo đài và mở mang đường xá để việc vận
chuyển quân lương được dễ dàng.
39
Cuối năm 1661, chúa Trịnh Tạc lại đem quân vào đánh Đàng
Trong (trận chiến thứ 6). Quân Nguyễn chống giữ ở lũy An Náu.
Để gây thêm khó khăn cho quân Trịnh trong việc cung cấp lương
thực, chúa Hiền cho áp dụng chiến thuật vườn không nhà trống.
Chúa sai rút quân và dời tất cả dân chúng vào trong lũy Nhật Lệ
trú ẩn, không để lại gì để quân Trịnh lấy làm lương thực.
40
Quân Nguyễn chỉ cố thủ trong lũy không giao tranh dù nhiều
lần quân Trịnh khiêu chiến. Đúng như dự tính của chúa Nguyễn,
mấy tháng sau, quân Trịnh ngày càng gặp khó khăn vì lương thực
cạn dần, binh lính mệt mỏi. Trong tình thế đó, Trịnh Tạc đành
phải rút quân về [1662].
41
Cho tới lúc đó, các chúa Nguyễn, dựa vào địa hình tự nhiên
và các con sông, đã cho xây dựng hệ thống phòng thủ ở vùng đất
Nam Bố Chính, địa đầu tiếp giáp với Đàng Ngoài với nhiều lũy
lớn: lũy Trường Dục (đắp năm 1630), lũy Nhật Lệ (1631), lũy
Trường Sa (1634). Nhờ hệ thống phòng thủ kiên cố này mà quân
Nguyễn có thể chống cự, đẩy lùi quân Trịnh, dù lực lượng Đàng
Ngoài đông hơn gấp bội.
42
Cuối năm 1662, chúa Hiền cho đắp thêm lũy Trấn Ninh để
việc phòng thủ ở cửa sông Nhật Lệ thêm vững chắc. Trước đây,
chắn ngang dọc bờ phía nam bờ sông này đã có lũy Nhật Lệ
nhưng dải đất phía bắc bờ sông vẫn còn trống trải. Nguyễn Hữu
Dật tích cực đốc thúc dân binh đắp lũy mới nằm ở bờ bắc sông
Nhật Lệ, nối tiếp lũy Nhật Lệ ra đến biển. Do vậy, lũy được
hoàn thành chỉ trong vài tháng.
43
Giữa năm 1672, Trịnh Tạc cử đại binh vào đánh Đàng Trong.
Chúa sai vận chuyển lương thảo ra tích trữ sẵn ở các kho ở Bố
Chính. Đường bộ dùng xe trâu vận chuyển, đường thủy dùng
thuyền.
44
Chúa Hiền cử công tử thứ 4 là Chưởng cơ Nguyễn Phúc Hiệp
làm Nguyên soái để mang quân chống cự. Quân Nguyễn chia
nhau đóng giữ các lũy nương tựa vào nhau. Nguyễn Phúc Hiệp
cũng cho quân đóng cọc gỗ ở cửa biển Nhật Lệ để ngăn thuyền
chiến họ Trịnh.
45
Quân Trịnh vượt sông Gianh lại tiến
đánh Đàng Trong.
Quân Trịnh có đến 10 vạn và 1000 chiến
thuyền nhưng cho phao tin quân số đến 18
vạn. Họ Nguyễn có ít quân hơn nhưng để tạo uy
thế, chúa Hiền cũng phao tin là quân số đến 16 vạn
và đang huy động thêm 10 vạn.
46
47
Thấy lực lượng của Trịnh quá hùng mạnh, chúa Hiền tự đốc
suất quân lính thủy bộ ra chống ngăn. Quân Trịnh đánh phá dữ
dội, phá được một phần lũy Trấn Ninh nhưng quân Nguyễn kịp
tiếp ứng nên cố thủ được. Đến cuối năm 1672, Trịnh Tạc thấy
không tiến quân được mà thời tiết lại bất lợi nên rút quân về. Từ
đó hai bên lấy sông Gianh làm ranh giới, chia vùng cai quản.
48
Họa sĩ thể hiện: Lê Phi Hùng
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Lê Văn Năm
Chúa Hiền chúa Nghĩa / Lê Văn Năm ; minh họa, Lê Phi Hùng. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ,
2013.
94 tr. ; 20 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.51).
1. Nguyễn Phúc Tần, 1620-1687 -- Sách tranh. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- Nguyễn Phúc
Tần, 1648-1687 -- Sách tranh. I. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Nguyễn Phúc Tần, 1620-1687 -- Pictorial works.
2. Vietnam -- History -- Nguyễn
Phúc Tần, 1648-1687 -- Pictorial works.
959.70272092 -- dc 22
L433-N17
LỜI GIỚI THIỆU
Khi còn là Thế tử, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đã lập
nên nhiều chiến công vô cùng hiển hách: phá giặc Ô Lan ở
cửa Eo, phá quân Trịnh nơi sông Gianh. Nối nghiệp chúa
Thượng, Hiền vương Nguyễn Phúc Tần được xem là người
chăm lo chính sự, chú trọng người tài, xa rời nữ sắc. Không
những vậy, người còn mở mang nhiều vùng đất mới, các
kênh Trung Đan, Mai Xá được khơi đào, phát triển ngoại
thương, bớt lao dịch giảm thuế khóa,... Bờ cõi vô sự, thóc
lúa được mùa.
Chúa Hiền mất, công tử trưởng của chúa Hiền mất sớm,
công tử Nguyễn Phúc Trăn nhận nghiệp lớn. Chúa Nguyễn
Phúc Trăn là người yêu kẻ sĩ, trọng nhân tài và thương dân.
Khi lên kế nghiệp, ngài giảm nhẹ hình phạt, xâu thuế; miễn
một nửa thuế ruộng mới khai hoang. Nhân dân đương thời
thương mến, thường gọi ngài là chúa Nghĩa (chúa Ngãi).
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 51 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh “Chúa Hiền - Chúa Nghĩa”
phần lời do Lê Văn Năm biên soạn, phần hình ảnh do Lê Phi
Hùng thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 51 của bộ
Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Nguyễn Phúc Tần sinh năm Canh Thìn (1620) và
là con trai thứ hai của chúa Thượng Nguyễn Phúc
Lan. Nối ngôi chúa năm 29 tuổi, ông đã góp phần
mở rộng lãnh thổ nước ta về phương nam, khuyến
khích dân khai hoang mở đất, mở mang đường xá,
phát triển kinh tế.
Sau khi ông mất, người con thứ là Nguyễn Phúc
Trăn (có tài liệu khác ghi là Nguyễn Phúc Thái) lên
nối nghiệp, gọi là chúa Nghĩa. Vừa lên ngôi, chúa
Nghĩa đã chọn Phú Xuân làm nơi đặt phủ chúa, xác
định vị trí kinh đô của họ Nguyễn trong hơn 250 năm
và cho cả nước trong gần 1,5 thế kỷ. Năm Tân Mùi
(1691), chúa Nghĩa mất, ở ngôi trong thời gian ngắn
ngủi chỉ có 4 năm.
4
Khi còn là Thế tử, Nguyễn Phúc Tần đã nhiều lần
tham gia chiến trận. Năm 1643, người Hà Lan phái
phái 3 tàu chiến từ căn cứ của họ ở Indonesia sang
giúp chúa Trịnh để chống lại Đàng Trong. Khi nghe
tin tàu của người Hà Lan đến cửa Eo (cửa Thuận
An), Thế tử Nguyễn Phúc Tần đã mang đội thuyền
chiến của mình đến đánh đuổi, một chiếc tàu Hà
Lan không kịp thoát, phải tự đốt tàu.
5
Năm 1642, chúa Trịnh tiến đánh Đàng Trong, chúa Sãi đích
thân cầm quân đánh trận. Tuy nhiên, chúa Sãi nhuốm bệnh nên
giao binh quyền cho Nguyễn Phúc Tần. Đàng Trong đại thắng,
truy kích quân Trịnh tới tận sông Gianh. Trên đường rút quân,
chúa Sãi mất, Thế tử Nguyễn Phước Tần nối ngôi.
6
Lên ngôi chúa, Nguyễn Phúc Tần quyết tâm đương
đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Lo sợ mình bị cám dỗ,
lôi cuốn vào việc ăn chơi hưởng thụ mà các vua chúa
thường mắc phải, ông tập trung tâm trí vào việc củng cố
lực lượng, tăng cường sức mạnh quân sự ở Đàng Trong.
Điều này có lúc biến ông thành người nhẫn tâm.
7
Chúa Hiền có một người cung nữ xinh đẹp tên là Thị Thừa mà
chúa rất yêu mến. Nhưng một hôm, khi đọc chuyện vua nước Ngô
ở Trung Quốc say đắm Tây Thi nên mất nước, chúa lo sợ mình
lại đi vào vết xe đổ của Ngô vương nên sai người giết chết người
cung nữ này.
8
Để nắm tình hình quân đội, chúa Hiền thường tổ chức những
cuộc duyệt binh để nắm tình hình quân đội, đánh giá khả năng
chiến đấu của binh lính. Năm 1653, chúa tổ chức một cuộc duyệt
binh lớn ở An Cựu (gần Huế), kiểm tra khí giới của binh lính. Ai
giữ khí giới sắc bén thì được thưởng, cùn thì nghiêm phạt.
9
Cuộc duyệt binh có quân số lên đến 22 ngàn người. Nhưng
đây chỉ là số quân ở Chính dinh vì theo tài liệu người Tây
phương ghi lại, bấy giờ, Đàng Trong có đến 40.000 quân. Nếu
so với con số vào năm 1615 (dưới thời chúa Nguyễn Phúc
Nguyên) là khoảng 3 vạn, ta thấy lực lượng quân sự đã tăng
đáng kể.
10
11
Chúa cũng quan tâm nhiều đến việc trang bị
vũ khí của quân đội. Đàng Trong đã đúc được
đại bác, nhất là từ khi người Hà Lan tên Jao da
Cruz (Jean de la Croix) giúp chúa Nguyễn. Một người
Tây phương đã ghi lại: các “khẩu đại bác nặng, dài khoảng
6 mét mang huy hiệu Đàng Trong, trông rất đẹp. Các khẩu
đại bác này được đúc trong khoảng từ năm 1650 đến 1660”1.
Bài Description of Cochichina của Pierre Poivre, trích theo Li Tana,
Xứ Đàng Trong, Nxb.Trẻ, TP.HCM, 1999, tr. 62-63.
1
12
Ngoài ra, chúa Hiền cũng đã nhiều lần tiến hành mua bán vũ
khí với người Tây phương. Năm 1651, chúa gửi 3000kg đồng
sang Ma Cao nhờ người Bồ đúc súng đại bác. Năm 1658, chúa
Hiền đã giao cho Marquez, một thừa sai dòng Tên, mang 10.000
nén bạc sang Ma Cao mua súng.
13
Đợi mãi ko thấy Marquez về, cho là vị thừa sai này cuỗm mất
tiền, chúa rất tức giận. Đúng lúc ấy, tàu từ Ma Cao cập bến. Chúa
mừng rỡ đến độ đã đến cảng Thanh Hà để xem xét,
vuốt ve các khẩu đại bác và lệnh bắn ba phát súng
thần công để chào mừng.
14
Chúa Hiền bắt buộc quân lính thường xuyên luyện tập sử dụng
vũ khí, thi bắn. Chúa lệnh cho các quan văn và các quan làm việc
ở trong phủ chúa cũng phải luyện tập cưỡi ngựa và bắn cung.
Một người Tây phương có nhận xét về khả năng bắn súng của
quân lính Đàng Trong: “Người Đàng Trong bây giờ đã thành
thạo trong việc sử dụng [súng] đến độ họ đã vượt cả người Âu
châu chúng ta. Hàng ngày họ tập bắn...”.
15
Bên cạnh đó, các chúa Nguyễn (và cả các chúa Trịnh) đều có
lực lượng tượng binh hùng mạnh. Theo ghi chép của người Hà
Lan, vào khoảng lúc chúa Hiền mới lên ngôi, số voi chiến của
Đàng Trong lên đến 600 con. Năm 1672, khi nghe tin quân Trịnh
tiến đánh Đàng Trong, chúa Hiền cho điều động ngay 5 cơ voi với
150 voi chiến ra tuyến đầu để phối hợp cùng các lực lượng khác.
16
Chúa Nguyễn Phúc Tần cũng được thừa hưởng một lực lượng
thủy quân hùng mạnh. Khi ông còn là Thế tử cũng đã chỉ huy lực
lượng thủy quân đánh thắng các tàu Hà Lan. Số lượng thuyền
chiến của Đàng Trong có vào thời chúa Hiền có thể khoảng 200
trăm chiếc. Trong khi đó, người Hà Lan cho rằng vào năm 1642,
chúa Nguyễn có 230-240 chiến thuyền.
17
Mỗi chiến thuyền có từ 60
đến 100 người, gồm người
chèo thuyền và lính chiến đấu
và được trang bị 1 khẩu súng
thường, bắn từ 4 đến 10 viên
đạn sắt và 2 khẩu súng lớn.
Binh lính trên thuyền còn được
trang bị giáo và câu liêm có
cán dài năm, sáu mét. Đây là
vũ khí lợi hại khi cận chiến,
họ dùng câu liêm móc
thuyền địch và sau đó nhảy
sang đánh.
18
Ngoài ra, để việc thông tin chiến
sự được nhanh chóng, chúa theo kế
của Nguyễn Hữu Dật, cho đặt các
đồn hỏa hiệu ở các cửa biển Quảng
Bình để khi hữu sự thì đốt lửa làm
hiệu (1655). Các đồn sau theo hiệu
lửa tiếp tục báo tin về kinh đô.
19
Khi mới lên ngôi chúa, tình hình trong
nước còn chưa ổn định, lực lượng quân sự
còn cần phải gây dựng, chúa Hiền không
muốn gây căng thẳng ngay với họ Trịnh. Vì thế
khi ở Thăng Long, vua Lê Chân Tông mất không
người nối ngôi, Lê Thần Tông trở lại ngôi (năm
1649). Mặc dù từ đời chúa Thượng, vua Lê không
còn phong tước cho chúa Nguyễn, chúa Hiền vẫn sai
sứ mang lễ vật ra Thăng Long mừng vua Thần Tông.
20
Tình hình nội bộ Đàng Trong còn bị
bất ổn với âm mưu cướp ngôi của Chưởng
cơ Nguyễn Phúc Trung (em của chúa
Thượng). Trước kia chúa Thượng say
mê nhan sắc của Tống thị. Chưởng cơ
Nguyễn Phúc Trung – em trai chúa
Thượng mưu giết Tống thị để trừ hậu
họa. Tống thị hay tin, nhờ cha liên lạc
xin chúa Trịnh giúp và việc này đưa đến
cuộc chiến Trịnh - Nguyễn năm 1648.
21
Mấy năm sau (1654), Tống thị dùng nhan sắc và sự khéo léo
của mình lung lạc Nguyễn Phúc Trung, xui Trung cướp ngôi
chúa. Nguyễn Phúc Trung nghe theo, cố gắng xây dựng lực
lượng và chuẩn bị đem quân tập kích phủ chúa.
Tuy nhiên
âm mưu này bị phát giác. Nguyễn Phúc Trung
bị
bắt
giam và sau đó chết trong ngục.
22
Trong sự việc này, chúa Hiền
đã có một hành động hết sức
khôn khéo. Có người tìm được
sổ sách ghi tên phe đảng của
Nguyễn Phúc Trung, trong đó có
rất nhiều tôn thất, đem dâng cho chúa
Hiền. Chúa sai đem sổ đốt đi, để làm an
tâm các quan lại, giữ sự trung thành của họ.
23
Sau nhiều năm chuẩn bị, lực lượng quân sự của Đàng Trong
đã hùng mạnh, chúa Hiền nghĩ tới việc đem quân chinh phạt họ
Trịnh. Chúa đắn đo tìm người có tài thao lược để giao cho việc
thống lĩnh quân sĩ. Cuối cùng quyết định giao cho Nguyễn Hữu
Tiến và Nguyễn Hữu Dật. Về việc chọn tướng này, có giai thoại
kể rằng trong lúc còn đang phân vân thì chúa nằm mộng thấy có
thần nhân cho ông một bài thơ trong đó có nhắc đến tước hiệu của
hai tướng này. Vì thế, chúa quyết định giao việc cầm quân cho họ.
24
Nguyễn Hữu Tiến có tài cầm quân còn Nguyễn Hữu Dật là
tướng tài lại đa mưu túc trí, từng có nhiều công trạng trong việc
đối phó với Đàng Ngoài. Tuy nhiên có lần Hữu Dật bị hạ ngục.
Đó là vào năm 1650, khi đang giữ chức Ký lục dinh Bố Chính,
vùng đất tiếp giáp với Đàng Ngoài. Nguyễn Hữu Dật lập mưu
gây tình hình rối loạn trong quân Trịnh. Ông sai tướng sĩ ăn
mặc, mang cờ xí như quân Trịnh len lỏi vào vùng đất do
quân Trịnh kiểm soát. Đồng thời ông viết thư cho tướng
Trịnh giả xin hàng, ước hẹn làm nội ứng. Nếu tướng
Trịnh mắc kế mang quân vào thì sẽ bị quân Nguyễn diệt.
25
Ông tự mình tiến hành công việc mà
không có lệnh của chúa Nguyễn Phúc Tần
hay bàn bạc với các tướng Nguyễn ở Bố
Chính. Thế nhưng việc chưa có kết quả
thì Tham tướng Tôn Thất Tráng, vốn thù
ghét Hữu Dật biết được, gièm pha với chúa
Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật âm mưu làm
phản và trở về Bắc với quân Trịnh.
26
Chúa Hiền liền cho bắt giam Hữu Dật. Trong ngục, Nguyễn
Hữu Dật viết tập truyện Hoa Vân cáo thị để giải bày chí hướng
phò tá chúa Nguyễn của mình và nhờ cai ngục tìm cách dâng lên
cho chúa Hiền. Chúa Hiền xem xong hiểu được tấm lòng của
Nguyễn Hữu Dật nên tha tội và tiếp tục cho làm quan ở Chính
dinh.
27
Đầu năm 1655, tướng Trịnh là Trịnh Đào sai quân đến cướp
phá ở vùng nam sông Gianh. Chúa Hiền quyết định khởi binh
đánh Trịnh.
28
Nguyễn Hữu Dật đến Nam Bố Chính xem xét để
nắm tình hình địch. Ông lập các đài hỏa hiệu ở các cửa
biển Quảng Bình để việc thông tin được nhanh chóng,
lập kho lương ở Trường Dục, các dinh Quảng Bình, Bố
Chính để tích trữ sẵn lương thực, quân nhu.
29
30
Năm 1655, Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật mang
đại binh, vượt sông Gianh đánh vào Bắc Bố Chính. Đây là
cuộc chiến lớn thứ năm trong bảy lần Trịnh - Nguyễn chạm
trán lớn và cũng là lần duy nhất quân Nguyễn tấn công trước.
Trong cuộc chiến lần này, Nguyễn Hữu Dật hiến nhiều mưu
kế giúp quân Nguyễn đánh thắng nhiều trận. Quân Nguyễn
đánh chiếm Hà Trung, căn cứ chính của lực lượng chúa Trịnh
và sau đó đẩy lùi quân Trịnh về cố thủ ở An Trường1 ở phía bắc
sông Lam (sông Cả).
Nay thuộc Nghệ An.
1
31
Nguyễn Hữu Dật nhiều lần làm kế ly gián, gây hiềm khích
trong hàng ngũ quân Trịnh, làm chúa Trịnh nghi ngờ lòng trung
thành của các tướng. Trong hơn 5 tháng, quân Nguyễn chiếm
được một vùng đất rộng lớn của họ Trịnh gồm Bắc Bố Chính và
7 huyện ở phía nam sông Lam. Trịnh Tráng phải sai con là Trịnh
Tạc đem đại quân vào An Trường để chống cự.
Trên vùng đất chiếm được, chúa Hiền tổ chức
bộ máy cai trị và chọn người có văn học, có tài
tại chỗ để bổ làm quan.
32
Việc vận chuyển quân lương đến cho quân lính ở vùng đất mới
chiếm được gặp nhiều khó khăn vì xa xôi và đường xá không
thuận tiện. Để có nguồn cung tại chỗ, chúa Hiền cho lập sổ sách
các hạng dân và thu thuế thân. Thuế
mới lại cao hơn
cả mức thuế thời chúa Trịnh nên
dân chúng ta
thán. Vì thế, Nguyễn Hữu Dật
phải sai người
đi đến các làng, ấp để giải thích là
mức thuế đó
là tạm thời nhằm đáp ứng quân
nhu trong lúc giao tranh mà thôi.
33
Quân Nguyễn, theo kế của Nguyễn Hữu Dật, cho người mang
mật thư ra Đàng Ngoài kêu gọi những người ở Đàng Ngoài nổi
lên chống Trịnh. Mạc Kính Hoàn ở Cao Bằng và nhiều sĩ phu,
quan lại ở Hải Dương, Sơn Tây, Lạng Sơn, Cao Bằng hưởng ứng,
hẹn sẽ nổi dậy khi quân Nguyễn đánh ra Bắc.
34
Chúa Trịnh cũng sai người sang vùng đất
quân Nguyễn đang chiếm giữ đem việc sưu
cao thuế nặng ra kêu gọi dân chúng chống
lại chúa Nguyễn và sai người mang vàng bạc
châu báu vào biếu Nguyễn Hữu Dật, kêu gọi
ông theo về với họ Trịnh. Nguyễn Hữu Dật
báo với chúa Hiền việc này. Chúa Hiền tin
tưởng lòng trung thành của ông. Tuy nhiên
việc này cũng tạo ra mối nghi ngờ giữa các
tướng Nguyễn và khoét sâu mối bất hòa giữa
Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật.
35
Năm 1660, quân Trịnh - Nguyễn giao tranh quyết liệt ở vùng
sông Gianh. Nguyễn Hữu Tiến có ý muốn rút quân về vì thấy
quân lính sau thời gian dài chinh chiến xa nay muốn trở về, lại
thêm số quân lính Đàng Ngoài theo hàng không thể hoàn toàn
tin tưởng được. Tuy nhiên ý kiến này không được Nguyễn
Hữu Dật tán thành.
36
Cuối năm này, quân Trịnh mở cuộc tấn công, Nguyễn Hữu
Tiến bí mật cho quân rút về mà không cho Nguyễn Hữu Dật biết.
Khi Hữu Dật hay tin thì quân Trịnh đã đến gần. Hữu Dật phải
dùng mưu khiến quân Trịnh sinh nghi không dám tiến đánh ngay
và cho quân rút đi. Quân Nguyễn rút về nam sông Gianh đóng giữ
những nơi hiểm yếu để phòng ngự. Quân Trịnh cũng lui về. Từ
đó, vùng đất Bắc Bố Chính lại trở về Đàng Ngoài.
37
Trong trận này, có lần quân Nguyễn đánh ra các huyện ở Nghệ
An, khi rút về đã bắt theo một số dân địa phương. Chúa Nguyễn
đưa họ vào sinh sống, khai phá vùng đất Qui Nhơn. Trong số
những người đó có tổ tiên của ba anh em nhà Tây Sơn sau này.
38
Sau khi quân Nguyễn rút về nam sông Gianh, chú Hiền cử
Nguyễn Hữu Dật làm Chưởng cơ, trấn thủ dinh Bố Chính. Nguyễn
Hữu Dật tích cực lo việc phòng thủ, sửa sang lại thành lũy. Mùa
thu năm 1661, chúa Hiền sai Nguyễn Hữu Dật đắp nối tiếp thêm
lũy Động Hồi (lũy Nhật Lệ) từ cửa An Náu đến núi Chu Thị (gọi
là lũy An Náu), dựng pháo đài và mở mang đường xá để việc vận
chuyển quân lương được dễ dàng.
39
Cuối năm 1661, chúa Trịnh Tạc lại đem quân vào đánh Đàng
Trong (trận chiến thứ 6). Quân Nguyễn chống giữ ở lũy An Náu.
Để gây thêm khó khăn cho quân Trịnh trong việc cung cấp lương
thực, chúa Hiền cho áp dụng chiến thuật vườn không nhà trống.
Chúa sai rút quân và dời tất cả dân chúng vào trong lũy Nhật Lệ
trú ẩn, không để lại gì để quân Trịnh lấy làm lương thực.
40
Quân Nguyễn chỉ cố thủ trong lũy không giao tranh dù nhiều
lần quân Trịnh khiêu chiến. Đúng như dự tính của chúa Nguyễn,
mấy tháng sau, quân Trịnh ngày càng gặp khó khăn vì lương thực
cạn dần, binh lính mệt mỏi. Trong tình thế đó, Trịnh Tạc đành
phải rút quân về [1662].
41
Cho tới lúc đó, các chúa Nguyễn, dựa vào địa hình tự nhiên
và các con sông, đã cho xây dựng hệ thống phòng thủ ở vùng đất
Nam Bố Chính, địa đầu tiếp giáp với Đàng Ngoài với nhiều lũy
lớn: lũy Trường Dục (đắp năm 1630), lũy Nhật Lệ (1631), lũy
Trường Sa (1634). Nhờ hệ thống phòng thủ kiên cố này mà quân
Nguyễn có thể chống cự, đẩy lùi quân Trịnh, dù lực lượng Đàng
Ngoài đông hơn gấp bội.
42
Cuối năm 1662, chúa Hiền cho đắp thêm lũy Trấn Ninh để
việc phòng thủ ở cửa sông Nhật Lệ thêm vững chắc. Trước đây,
chắn ngang dọc bờ phía nam bờ sông này đã có lũy Nhật Lệ
nhưng dải đất phía bắc bờ sông vẫn còn trống trải. Nguyễn Hữu
Dật tích cực đốc thúc dân binh đắp lũy mới nằm ở bờ bắc sông
Nhật Lệ, nối tiếp lũy Nhật Lệ ra đến biển. Do vậy, lũy được
hoàn thành chỉ trong vài tháng.
43
Giữa năm 1672, Trịnh Tạc cử đại binh vào đánh Đàng Trong.
Chúa sai vận chuyển lương thảo ra tích trữ sẵn ở các kho ở Bố
Chính. Đường bộ dùng xe trâu vận chuyển, đường thủy dùng
thuyền.
44
Chúa Hiền cử công tử thứ 4 là Chưởng cơ Nguyễn Phúc Hiệp
làm Nguyên soái để mang quân chống cự. Quân Nguyễn chia
nhau đóng giữ các lũy nương tựa vào nhau. Nguyễn Phúc Hiệp
cũng cho quân đóng cọc gỗ ở cửa biển Nhật Lệ để ngăn thuyền
chiến họ Trịnh.
45
Quân Trịnh vượt sông Gianh lại tiến
đánh Đàng Trong.
Quân Trịnh có đến 10 vạn và 1000 chiến
thuyền nhưng cho phao tin quân số đến 18
vạn. Họ Nguyễn có ít quân hơn nhưng để tạo uy
thế, chúa Hiền cũng phao tin là quân số đến 16 vạn
và đang huy động thêm 10 vạn.
46
47
Thấy lực lượng của Trịnh quá hùng mạnh, chúa Hiền tự đốc
suất quân lính thủy bộ ra chống ngăn. Quân Trịnh đánh phá dữ
dội, phá được một phần lũy Trấn Ninh nhưng quân Nguyễn kịp
tiếp ứng nên cố thủ được. Đến cuối năm 1672, Trịnh Tạc thấy
không tiến quân được mà thời tiết lại bất lợi nên rút quân về. Từ
đó hai bên lấy sông Gianh làm ranh giới, chia vùng cai quản.
48
 






Các ý kiến mới nhất