Trường học thân thiện
Chào mừng quý vị đến với Thư viện điện tử phòng GD&ĐT Huyện Quỳ Hợp.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Mot so bai tho cua Ba huyen Thanh Quan va Ho Xuan Huong

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Cao Minh Anh (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:32' 04-12-2010
Dung lượng: 36.0 KB
Số lượt tải: 39
Nguồn:
Người gửi: Cao Minh Anh (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:32' 04-12-2010
Dung lượng: 36.0 KB
Số lượt tải: 39
Số lượt thích:
0 người
BÀ HUYỆN THANH QUAN
Bà huyện Thanh Quan là một nữ sĩ thời Nguyễn. Tiểu sử của bà không được đầy đủ lắm. Người ta chỉ biết bà là ái nữ của một vị danh Nho, sinh quán tại làng Nghi Tàm, huyện Thọ Xương (nay là Hoàn Long, tỉnh Hà Đông). Bà lập gia đình với ông Lưu Nghị, tự là Lưu Nguyên Uẩn, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, đỗ cử nhân khoa Tân Tỵ, năm Minh Mạng thứ hai, được bổ làm tri huyện Thanh Quan. Do đó nữ sĩ được gọi là Bà huyện Thanh Quan hay Bà Thanh Quan. Do là nữ nhân nên các tác phẩm của bà hiện nay chỉ còn 7 tác phẩm . Đa số bị thất truyền . Vua Tự Đức cũng rất thích những tác phẩm của bà . Đền Trấn Vũ Êm ái chiều xuân tới Trấn đài Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai Ba hồi chiêu mộ, chuông gầm sóng Một vũng tang thương, nước lộn trời Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi Nào nào cực lạc là đâu tá Cực lạc là đây, chín rõ mười. Cảnh chiều hôm Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn. Gác mái, ngư ông về viễn phố, Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ? Cảnh thu Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ Xanh um cổ thụ tròn xoe tán Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ. Chùa Trấn Bắc Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu Ai đi qua đó chạnh niềm đau Mấy toà sen rớt mùi hương ngự Năm thức mây phong nếp áo chầu Sóng lớp phế hưng coi đã rộn Chuông hồi kim cổ lắng càng mau Người xưa cảnh cũ nào đâu tá Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu Chiều hôm nhớ nhà Vàng toả non Tây bóng ác tà Đầm đầm ngọn cỏ tuyết phun hoa Ngàn mai lác đác, chim về tổ Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà Còi mục gác trăng miền khoáng dã Chài ngư tung gió bãi bình sa Lòng quê một bước dường ngao ngán Mấy kẻ chung tình có thấy là ? Qua đèo Ngang Bước tới đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen lá ,đá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái da da. Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta. Thăng Long Hoài cổ Tạo hoá gây chi cuộc hý trường, Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương. Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương. Nghìn năm gương cũ soi kim cổ, Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
NỮ SĨ HỒ XUÂN HƯƠNG
Về tiểu sử Hồ Xuân Hương có nhiều mâu thuẫn với nhau nên chưa ai biết chính xác thời điểm sáng tác của bà . Đề Đền Sầm Nghi Đống Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo, Kìa đến thái thú đứng cheo leo. Ví đây đổi phận làm trai được, Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!
Đề tranh Tố nữ Hỏi bao nhiêu tuổi hỡ cô mình ? Chị cũng xinh mà em cũng xinh Đôi lứa như in tờ giấy trắng. Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh. Xiếu mai chi dám tình trăng gió, Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh, Còn thú vui kia sao chẳng vẽ, Trách người thợ vẽ khéo vô tình. Xiều mai : ám chỉ người con gái đã lỡ thì
Đồng tiền hoẻn Cũng lò cũng bễ cũng cùng than, Mở mặt vuông tròn với thế gian. Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn, Đủ đồng ắt cũng đáng nên quan.
Động Hương Tích Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm Nứt ra một lỗ hỏm hòm hòm. Người quen cõi Phật chen chân xọc, Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm. Giọt nước hữu tình rơi thánh thót, Con thuyền vô trạo cúi lom khom. Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại, Rõ khéo trời già đến dở dom.
Bà huyện Thanh Quan là một nữ sĩ thời Nguyễn. Tiểu sử của bà không được đầy đủ lắm. Người ta chỉ biết bà là ái nữ của một vị danh Nho, sinh quán tại làng Nghi Tàm, huyện Thọ Xương (nay là Hoàn Long, tỉnh Hà Đông). Bà lập gia đình với ông Lưu Nghị, tự là Lưu Nguyên Uẩn, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, đỗ cử nhân khoa Tân Tỵ, năm Minh Mạng thứ hai, được bổ làm tri huyện Thanh Quan. Do đó nữ sĩ được gọi là Bà huyện Thanh Quan hay Bà Thanh Quan. Do là nữ nhân nên các tác phẩm của bà hiện nay chỉ còn 7 tác phẩm . Đa số bị thất truyền . Vua Tự Đức cũng rất thích những tác phẩm của bà . Đền Trấn Vũ Êm ái chiều xuân tới Trấn đài Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai Ba hồi chiêu mộ, chuông gầm sóng Một vũng tang thương, nước lộn trời Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi Nào nào cực lạc là đâu tá Cực lạc là đây, chín rõ mười. Cảnh chiều hôm Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn. Gác mái, ngư ông về viễn phố, Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ? Cảnh thu Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ Xanh um cổ thụ tròn xoe tán Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ. Chùa Trấn Bắc Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu Ai đi qua đó chạnh niềm đau Mấy toà sen rớt mùi hương ngự Năm thức mây phong nếp áo chầu Sóng lớp phế hưng coi đã rộn Chuông hồi kim cổ lắng càng mau Người xưa cảnh cũ nào đâu tá Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu Chiều hôm nhớ nhà Vàng toả non Tây bóng ác tà Đầm đầm ngọn cỏ tuyết phun hoa Ngàn mai lác đác, chim về tổ Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà Còi mục gác trăng miền khoáng dã Chài ngư tung gió bãi bình sa Lòng quê một bước dường ngao ngán Mấy kẻ chung tình có thấy là ? Qua đèo Ngang Bước tới đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen lá ,đá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái da da. Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta. Thăng Long Hoài cổ Tạo hoá gây chi cuộc hý trường, Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương. Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương. Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, Nước còn cau mặt với tang thương. Nghìn năm gương cũ soi kim cổ, Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.
NỮ SĨ HỒ XUÂN HƯƠNG
Về tiểu sử Hồ Xuân Hương có nhiều mâu thuẫn với nhau nên chưa ai biết chính xác thời điểm sáng tác của bà . Đề Đền Sầm Nghi Đống Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo, Kìa đến thái thú đứng cheo leo. Ví đây đổi phận làm trai được, Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!
Đề tranh Tố nữ Hỏi bao nhiêu tuổi hỡ cô mình ? Chị cũng xinh mà em cũng xinh Đôi lứa như in tờ giấy trắng. Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh. Xiếu mai chi dám tình trăng gió, Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh, Còn thú vui kia sao chẳng vẽ, Trách người thợ vẽ khéo vô tình. Xiều mai : ám chỉ người con gái đã lỡ thì
Đồng tiền hoẻn Cũng lò cũng bễ cũng cùng than, Mở mặt vuông tròn với thế gian. Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn, Đủ đồng ắt cũng đáng nên quan.
Động Hương Tích Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm Nứt ra một lỗ hỏm hòm hòm. Người quen cõi Phật chen chân xọc, Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm. Giọt nước hữu tình rơi thánh thót, Con thuyền vô trạo cúi lom khom. Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại, Rõ khéo trời già đến dở dom.
 






Các ý kiến mới nhất