NGHE NHẠC

Trường học thân thiện

THỜI GIAN LÀ VÀNG


Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Văn Toàn)

Ảnh ngẫu nhiên

HOC_SINH_THI_GIOI_THIEU_SACH.jpg LANH_DAO_TRAO_QUA_CHO_CAC_EM_DAT_GIAI.jpg CHAO_MUNG_NGAY_SACH__NAM_2024.jpg HOC_SINH_6B_THI_GIOI_THIEU_SACH.jpg 7777.jpg 89.jpg 87.jpg 1467618803704690989_1.flv 1467618803704690989.flv SUOIYEN.jpg MaybaytructhangMi1711.jpg Trao_Huy_hieu.jpg Nguyen_Cong_Hoi_NA.jpg 18_chien_si_.jpg Hinh0009_001_001.jpg Image2.jpg To_gap_mat23.jpg Image.jpg SAM_1295.jpg DSC_3510.jpg

Điều tra ý kiến

Bạn thấy website của chúng tôi như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    LƯỢT TRUY CẬP

    Website counter

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện điện tử phòng GD&ĐT Huyện Quỳ Hợp.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Những trạng nguyên đặc biệt trong lịch sử việt nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
    Ngày gửi: 18h:25' 09-03-2024
    Dung lượng: 14.0 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Những Trạng nguyên đặc b iệt
    trong lịch sử V iệt Nam

    TÚ SÁCH "VIỆT NAM - ĐẤT Nước, CON NOườT'

    NHỮNG
    TRẠNG NGUYÊN ĐẶC BIỆT
    TRONG LỊCH sử VIỆT NAM
    NHÓM TRÍ THỨC VIỆT
    Tuyển chọn

    NHÀ XUẤT BẢN THỜI ĐẠI

    ... trong lích sử V it t N a m

    5

    Lời nói đầu
    “Hiền tài là nguỵên khí quốc gia” - những chừ
    Thán Nhân Trung thay mặt vị vua anh minh Lẻ
    Thánh Tông soạn để khắc vào đá bia Tiến sĩ như một
    định đề bất biến. Thời nào cũng vậy, sức mạnh của
    dân tộc là sức mạnh toàn dân mới làm nên lịch sử.
    Đặc biệt, nhân tài luôn giữ vai trò quan trọng hàng
    đàu góp phần làm nên lịch sử. Không phải ngẫu nhiêu
    mà muôn đời nay, những bậc hiền tài được nhăn dân
    ngưỡng vọng và xem họ như thánh thần, nhiều người
    được phong làm Phúc thần. Thành hoàng - tức là đã
    trở nên bất tử trong tâm linh mọi người.
    Đại diện xuất chúng cho những con người tài giỏi
    của đất nước là các vỊ Trạng nguyên - là danh hiệu
    thuộc học ví Tiến sĩ của người đỗ cao nhất trong các
    khoa Đinh của các triều nhà Lý. Trần, Lê, và Mạc, kể
    từ khi có danh hiệu Tam khôi dành cho 3 vị trí đầu
    tiên. Người đỗ Trạng nguyên nói riêng và đỗ tiến si
    nói chung phải vượt qua 3 kỳ thi: thi Hương, thl Hội
    và thi Đinh. Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam gần
    nghìn nám, số Trạng nguyên là không nhiều: Theo
    một số tài liệu, trong đó có cuốn Những ông nghè ông
    cống triều Nguyễn của Bùi Hạnh cẩn. Nguyễn Loan
    và Lan Phương, Nxb. Văn hóa-Thông tin, 1995, dựa
    vào các công trình Các nhà khoa bảng Việt Nam, NXB
    Văn hóa. 1993: Quốc triều hương khoa lục, Nxb.
    Thành phố Hồ Chí Minh, 1993 thi từ khí bắt đầu mở

    6 ỉỉh ữ tiỊ

    T r a n g nguyên dàc í iê t ...

    khoa thl (1075) đến khi chấm dứt (khoa thi cuối cùng
    tổ chức năm 1919), tổng cộng có 184 khoa thi với
    2785 vị đỗ đại khoa (đỗ tiến sĩ và tính cả phó bảng),
    trong đó có 56 Trạng nguyên (gồm 7 trong số 9 thủ
    khoa Đại Việt và 49 Trạng nguyên trong danh sách
    má Wikipedia mở giới thiệu).
    Tuy nhiên, tác giả Vũ Xuân Thảo trong bàí Vài số
    liệu, tư liệu chưa chính xác trong cuốn "Những ông
    nghè ông cống triều Nguyễn "đăng trên tạp chí Xưa
    và Nay số 67, tháng 9 năm 1999 đá cho rằng con số
    trên không chính xác. Theo ông thì từ năm 1075 đến
    năm 1919 có tổng cộng có 185 khoa thi với 2898 vị
    đỗ đại khoa (tính từ phó bảng trở lên), trong đó chỉ có
    47 Trạng nguyên (thời Trần: 9; thời Lê: 27: thời Mạc:
    11). Cũng theo tác giả này và Lê Thái Dũng trong
    Giở trang sử Việt năm 2008 của NXB Đại học Quốc
    gla Hà Nội thì Trạng nguyên dầu tiên là Nguyễn
    Quan Quang, đỗ khoa Bính Ngọ (1246) - Đời vua
    Trần Thát Tồng bắt đầu đặt danh hiệu Tam khôi
    (Trạng nguyên - Bảng nhãn - Thám hoa).
    Với thống kê nêu trên, chúng ta càng kính
    ngưởng những người đoạt được danh hiệu Trạng
    nguyên, tuy nhiên, do khuôn khổ có hạn dành cho
    cuốn “Những Trang nguyên đặc biêt trong lịch sử
    Việt Nam” của chúng tôi chỉ giới thiệu một số vỊ đố
    Trạng nguyên có hành trạng đặc biệt (ví dụ: Khai
    khoa, trẻ nhất, Lưỡng quốc Trạng nguyên...) mà thôi.
    Trân trọng glớl thiệu cùng bạn đọc.
    NHÓM TUYỂN CHỌN

    ...

    trong lích sử V i í t N a m

    7

    LÊ VẢN THỊNH KHAI KHOA ĐẠI VIỆT
    Theo thần phả ở đền Thượng, Bảo Tháp, xã Đông
    Cứu do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính Phụng soạn,
    truyện kể dân gian và sử sách nhiều đời - Lê Văn
    Thịnh sinh ngày 11/2 năm Canh Dần (1050), ở khu
    Bảo Tháp, trang Đông Cứu, huyện Gia Lương (nay là
    làng Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh
    Bắc Ninh). Bố là cụ Lê Thành, dạy học và làm thuốc,
    mẹ là cụ Trần Thị Tín, ở trang Ngô Xá (nay là làng
    Thí Xá, xã Cách Bi, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ntnh).
    Lên 7 tuổi Văn Thịnh đi học, 13 tuổi kinh, sử, thi
    thư đều biết hết, thiên văn, địa lý tỏ tường, học trò thời
    ấy thán phục, gọi Ván Thịnh là thần đồng. Đến năm 18
    tuổi, bố mẹ mất, ông lo an táng cho bố mẹ chu đáo và
    ở nhà hương khói thờ phụng. Sau ngày đoạn tang. Vãn
    Thịnh đến Chi Nhị trang (nay là làng Chỉ Nhị, xâ Song
    Giang, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), thấy dân nơi
    đây quê mùa, thật thà nhưng ít học vấn, ông bèn vận
    động dựng trường để ông dạy dân học. về sau dân hơi
    đây biết chữ, biết lễ, nghĩa là do công ông truyền dạy.
    Sau khi định đô ở Thăng Long, yên bề xã tắc, nhà
    Lý chú trọng đến việc giáo dưỡng dân chúng, đào tạo
    người hiền tài cho đất nước. Năm Ất Mão (1075) niên
    hiệu Thái Ninh thứ 4 đời Vua Lý Nhân Tông, nhà Lý
    cho mở khoa thỉ đầu tiên trong lịch sử của nền học
    vấn Đại Việt. Trong các khoa thi đầu tiên, do muốn

    8 ĩ^ lìirn g

    T i 'ong n ^ ty e n (iác lìiê l...

    khẳng định sự độc lập với phương Bắc nên khoa thỉ
    gọi là khoa thi Tam trường hoặc là Minh Kinh bác học.
    Tuy nhiên, cách tổ chức thi cử và lựa chọn những
    người đỗ thì giống như các khoa thi lựa chọn Trạng
    nguyên sau này. Chính vậy mà Lê Văn Thịnh, người đỗ
    Thủ khoa Minh Kinh bác học trong kỳ thi đầu tiên
    luôn được coi là vị Trạng nguyên đầu tiên của Đại Việt.
    Năm ấy vua mới 9 tuổi, ông được phong Thị độc chi
    chức hầu vua học. Năm vua 18 tuổi (1084), Lê Văn
    Thịnh được phong Thị lang Bỉnh bộ.
    Sự thông tuệ, uyên bác kỳ lạ của Lê Văn Thịnh,
    chứng tỏ ông hỢp với danh hiệu Trạng nguyên đầu tiên
    của Đại Việt. Hơn nữa, giữa lúc sự sùng bái đạo Phật của
    triều đình và dân chúng tăng quá mức, ông tỏ rõ tư
    tưởng độc lập bằng cách đề xướng đạo của ngitời Đại
    Việt. Vốn là người có tài. lại gặp triều đình sáng suốt, biết
    trọng nguyên khí quốc gia, nên chỉ sau 10 năm ông đã
    lập công lớn và trở thành Thái sư, tức là thầy dạy học
    cho chính các công chúa hoàng tử trong triều (1085).
    Trước đó, ngay khi ông đỗ thủ khoa, năm 1076,
    triều đình nhà Tống từ Trung Quốc sai Quách Quỳ (cấp
    trưởng) và Triệu Tiết (cấp phó) tại xứ Quảng Nam (tức
    khu tự trị Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay) làm
    Chiêu thảo sứ. đem hàng chục vạn quân cùng 9 tướng
    lĩnh. hỢp với quân Chiêm Thành và quân Chân Lạp cùng
    ùa sang xâm lấn Đại Việt để trả thù về việc bị Lý Thường
    Kiệt và Tông Đản đem quân tấn công các châu Ung,
    Khâm, Liêm của nhà Tống năm trước, nhằm phủ đầu
    mưu đồ xâm lược của nhà Tống. Trên sông Như Nguyệt
    (Bắc Ninh), Lý Thường Kiệt đá dàn quân, cùng các tướng

    ...

    trong lich sử V i i t ĩ ĩ a m

    9

    lĩnh đánh tan hết trận này, trận khác khiến cả đội quân
    hùng, tướng mạnh của các sứ quân do Quách Quỳ chỉ
    huy phải thất điên bát đảo. Cuối cùng, được sự nghị hoà
    khiêm nhường của Đại Việt, để bảo vệ mạng sống, đích
    thân Quách Quỳ phải ra lệnh lui quân.
    Mùa xuân năm 1078, vua Lý Nhân Tông sai Đào
    Tống Nguyên đi sứ sang Trung Quốc, đem theo 5 con
    voi thuần chủng biếu vua quan nhà Tống, để giảng hoà
    và xin họ trả lại phần đất của Việt Ncun đã bị lấn
    chiếm cùng hàng nghìn người dán bị bắt về Trung
    Quốc tnrớc đó.
    Nhà Lý trong buổi đầu dựng nước, đất của vương
    quốc còn chật hẹp, phía Nam giáp đèo Ngang luôn bị
    quân Chiêm Thành, Chân Lạp, Trảo Oa... xâm lấn
    cướp bóc. Đất phía Tây giáp Ai Lao, núi non hiểm trở
    vốn có nhiền biến động, khó mở rộng được lãnh thổ
    Đạl Việt. Còn vùng đất các châu Kimi “phên dậu” phía
    Bắc giáp nước Tống, sự quản lý cỉia triều đình lỏng lẻo
    đối với tù trưởng địa phương. Các nhóm thủ lĩnh dân
    tộc này, một số không muốn thần phục chính quyền
    trung ương Đạl Việt, họ thường bị thế lực nước ngoềd
    mua chuộc. Các triều đình Việt Nam - tiêu biểu là thời
    Lý, đều có chính sách nhất quán đối với tù trưởng thủ
    lĩnh dân tộc miền núi phía Bắc - đó là chiều chuộng, o
    bế, cực chẳng đã mới phải mang quân đàn áp.
    Vào đời Gia Hữu (trỉều Bắc Tống 1056- 1064),
    tướng Đại Việt là Dương Thọ Văn đem quân hỏỉ tội
    Nùng Trí Hội nên Hội đả cầu cứu triều đình nhà Tống,
    đem động Vật Ác nộp cho họ. Vua Tống ban lại đất ấy
    cho Hội và đặt tên là đất Thuận An. Đến đời Trị Bình

    1 0 ì'ỉliữ n ỊỊ T r a n g nguyên J â c lỉiêt...

    (Nhà Tống 1064-1068), Nùng Trí HỘI lạl đem nốt động
    Vật Dương nộp, được vua Tống đổi tên thành châu Quy
    Hóa. Hai động này tliuộc đất Quảng Nguyên của Đại
    Việt. Có lần quân Nhà Lý đã tiến vào Quy Hóa, mang
    khá nhiều sinh khẩu ở đây về Đại Việt. Năm 1083 Hội
    ngliỊ ở Vĩnh Bình giữa sứ nước Nam là Đào Tông
    Nguyên và viên qucUi Thành Trạc nước Tống, bàn về
    việc trao trả hai động trên cho nước ta đã thất bại.
    Chánh sứ Việt bực tức bỏ hội ngliỊ ra về. Thế rồi quân
    Việt tập trung ở gần châu Quy Hóa vùng biên giới,
    phao hn sẽ đánh vào đất Tống, người Tống hỏi sứ bộ
    Đại Việt, họ cũng nhận là đúng. Điều này làm cho
    Tống Triết Tông lo ngại. Quân Đại Việt được đánh giá
    là tinh nhuệ, thời Lý Thánh Tông, nhà Tống đã học
    theo lối phiên chế đội ngũ của quân ta. Trong bối cảnh
    đó Lý Nhân Tông hỏi ý kiến Lê Văn Thịnh, ông trả lời:
    - Việc dùng bữih đao để đòi đất là bất đắc dĩ, xin
    Bệ hạ cho phái đoàn khác lên biên giới thương thuyết.
    Vì thế, tháng 6 năm 1084, sau năm năm giằng co,
    lưỡng lự, Lê Văn Thịnh với cương vị là Thị Icing bộ Binh
    đến trại Vĩnh Bình cùng vua quan nhà Tống bàn việc
    cương giới. Tuy bứih lực nhà Tống lúc đó đả bị Lý
    Thường Kiệt đánh tìiua tan tác, song với bản chất tham
    lam, tàn bạo, họ chỉ đồng ý trả lại phần đất đá xâm lấn
    chứ nhất định không nhượng lại phần đất cưỡng chiếm
    của thổ dân với lý do: “Đất ấy là của thổ dân “tự ý” đem
    sát nhập vào nhà Tống để tỏ lòng thuần phục chứ họ đâu
    có ỷ thế lấn chiếm. Vì thế, với kiến thức và sự lịch lãm,
    khoan dung cao độ, Lê Văn Thịnh đả trả lời Thành Trạc
    - sứ giả nhà Tống: Đã là đất thì phải có chủ, các viên

    ...

    trong lich sứ V iê t ì^ a m

    11

    quan đưỢc triều đình nlià Lý giao cho giữ đất để bảo vệ
    biên thuỳ mà lại đem nộp cho nhà Tống và trốn đi thì
    đất ấy đích thực là vật ăn trộm. Việc này, luật pháp Đại
    Việt không nliững không cho phép, mà còn làm dơ bẩn
    sổ sách của vua quan nhà Tống nữa \à đã nhập nhầm
    phần đất do ứiổ dân ăn trộm.
    Bàn đi tính lại, cuối cùng, cách trả lời cứng cỏi, đầy
    đủ lập luận, lý lẽ của Lê Văn Thịnh khiến nhà Tống cứng
    họng. Đơn giản vì luật pháp đã quy định rõ ràng. Tất cả
    các quan viên, khỉ nhận một phần lảnh thổ để canh giữ,
    nếu đem bán hoặc hủy bỏ đều có tội. Trong trường hỢp
    này, các thổ quan - vốn là những người được Lý Nhân
    Tông tin dùng, cho cai quản các châu quận ở nơi biên ải
    xa, đã không giữ được sự tin cẩn của ừiều đình lại tự
    tiện đem đất đal của tổ tiên dâng cho nhà Tống, để xin
    thuần phục là xâm phạm vào lảnh thổ của Đại Việt. Còn
    việc nhà Tống tự tiện chiếm giữ đất ấy là bất hỢp pháp,
    không minh bạch, không đáng giá, không xứng đáng với
    sự hoà hỢp của hai dân tộc.
    Nhờ phân biệt rõ rỀưig các khái niệm khế ước ủy
    nhiệm, ký thác hay quyền sở hữu mà Lê Văn Thịnh đã
    buộc Nhà Tống phải trả nốt 6 huyện, 3 động đã chiếm
    của Đại Việt theo đúng ý mình. Nhân sự việc này người
    dân Tống có thơ rằng:
    Vì tham voi Giao Chi
    Bỏ mất vàng Quảng Nguyên.

    Nghĩa là chỉ vì tham 5 con vol thuần chủng của
    người Giao Chỉ (tức người Việt Nam) mà triều đình nhà
    Tống của Trung Quốc phải bỏ lạí hal tỉnh Cao Bằng,
    Lạng Sơn (Quảng Nguyên) chứa đầy vàng bạc, châu

    1 2 l'ỉlìữ n \Ị

    TrtiiìỊ lìĩỊiiyên

    <ỉác lyiêl...

    báu trong lòng đất.
    Nhờ thành công đó Lê Văn Thịnh Được phong
    chức Thái sư, viên quan đầu triều. 11 năm trong
    cương vị Thái S IÍ - chuyên truyền đạt những điều hay lẽ
    phải những kiến thức uyên thâm sâu sắc cho con cái
    các bậc quân viíơng trong triều, trong sự tin cậy tuyệt
    đối của vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127). ông là ngiíời
    có lòng tự tôn dân tộc cao, cả đời làm quan chỉ muốn
    làm sáng tỏ cái đạo của người Đại Việt, ông viết: “Trên
    thuận với trời, dưới thuận với đất, mọi người cung
    kính, yêu thương nhau như anh em, ấy là cáii đạo của
    Đại Việt”. Lịch sử ghi nhận công lao của ông trong việc
    gìn giữ vùng biên cương phía Bắc.
    Lê Văn Thịnh đã lên tới “tột đỉnh vinh quang”, nhưng
    các vương tôn triều Lý đang ngấm ngầm ghen tỵ với ân
    sủng vua ban cho Lê Văn Thịnh, một người họ ngoài
    dòng tôn thất lại được đưa lên chức VỊI cao nhất triều
    đình. Trường hỢp của Lê Văn Thịnh phải chăng là hiện
    tiíỢng độc nhất vô nhị trong chốn quan trường phong
    kiến Việt Nam? Chỉ vẻn vẹn 10 năm tham gia triều
    clúnh, từ 1075 đến 1085 ông đã được thăng lên chức
    quan đầu triều, “dưới một người trên muôn người”. Rồi
    đây chắc Thái sư chẳng dễ dàng gí khi tham dự triều
    chính hay đưa ra những quyết sách lớn ích nước lợi dân.
    Thế rồi “quả bom” Lê Văn Thịnh nổ giữa triều đường
    làm xôn xao hàng ngũ thân vương quý tộc, đại sư và các
    vị đại thần. Trong buổi chầu sớm, Thái sư tâu:
    - Xln xác định các chùa trong nước làm 3 hạng là
    đại danh lam, trung danh lam và tíểu danh lam. Mỗi
    chùa phải cho một quan ván chức cao kiêm làm đề cử.

    ...

    trong lich sứ V i i t ^ a m

    13

    Cả triều đình im lặng, sau một hồi suy nghĩ Thái
    hậu Ỷ Lan phán:
    - Ta đã hiểu ý khanh, ta chấp nhận điều này.
    Bà nghĩ nhiều chùa đại danh lam có đến hàng
    ngliìn mẫu ruộng, hàng trăm điền nô, mỗi năm thu
    hoạch điíỢc thật nhiều huê lợi. Vàng bạc châu báu
    trong nhiều chùa không ít, cách quan văn làm đề cử
    kiểm soát sẽ thu lại từ hệ thống chùa chiền trong cả
    nước một nguồn lợi lớn cho quốc gia.
    Thái sư tâu tiếp:
    - Cho định các chức quan văn quan võ hầu cận bệ
    hạ và các chức tạp lưu. cần định lệ thi cử để tìm nhân
    tài trong con cháu các thân viíơng quý tộc. Xỉn cho
    định các sổ ruộng thu tô, mỗi mẫu 3 thăng để cấp
    quềìn lương cho lính.
    Nhà Vua cũng bằng lòng chuẩn tấu.
    Nhà vua và Thái hậu hiểu rõ - San định lại các
    chức văn vỏ hầu cận tức là hạn chế những con cái gia
    đình vương tộc “ăn theo” như tình trạng vỢ được phong
    lưu, con được tập ấm nhờ những chiến công xa lắc của
    tổ tiên họ Lý nhà chồng. Bắt con cái thân tộc phải thi
    thố cùng nhân sĩ trong thiên hạ. Việc định diện tích
    ruộng sở hữu để thu tô là chủ yếu nhằm vào các thân
    vương quý tộc vì họ mới có điền trang rộng lớn. Tuy
    phê chuẩn nhưng vua không khỏi băn khoăn, ông đến
    gặp mẹ cùng phân tích. Linh Nhân Thái hậu bảo:
    - Thái sư là người thông tuệ, đang gắng sức phục
    vụ triều đình, nhà vua cần ủng hộ ông ta.
    Song những nội dung cải cách của Lê Văn Thịnh, làm

    1 4 ỉỉlt ữ n g T v n iig ngiiyên (iăc l>iêl...

    VÔ Số quan đại ứiần và các gia đình thân vương bị xâm hạl
    đến quyền lợi riêng, đem lòng ^len ghét và thù địch ông.

    Có thuyết cho rằng, VỊJ án hóa hổ của Thái sư Lê
    Văn Thịnh là phản ánh sự đối đầu của thế lực đạo
    Phật và trào lưu Nho học đang lên ở Đạú Việt thời Lý
    Nhân Tông. Qua nhiều kỳ thl cử, số người trúng cách
    nhờ dùi mài kinh sử ngày càng đông, bộ máy quan lạỉ
    của triều đình được bổ sung dần những cái đầu đầy
    kiến thức “tứ tliư” “ngũ kỉnh”... tập hỢp lại. trở thềmh
    thế lực Nho học có ảnh hưởng ngày cỀuig sâu rộng
    trong triều đình và xã hội.
    Đạo Phật là một thế lực xã hội có những đụng
    chạm quyền lợi với phái Nho giáo, mà Thái sư Lê Văn
    Thịnh đại diện. Trong đó điểm mấu chốt: nội dung cải
    cách mới làm thiệt hại quyền lợỉ của giới tăng lữ, quý
    tộc. Theo đánh giá của các vương thân: những điều Lê
    Văn Thịnh muốn thực hiện chỉ có lợi cho đám dân đen
    cấy các ruộng công điền và tầng lớp nho sĩ mà thôi.
    Những “trận chiến” cung đình từ xưa tới nay
    thường biến động dữ dội, mà đi kèm cùng nó, có cái
    chết của các vương thân, quý tộc, đại thần...
    Sự đụng đầu các thế lực ắt sẽ xảy ra.
    Hiện tại sau hơn 1000 năm, vụ án hồ Dâm Đàm
    vẫn còn là một nghỉ án lịch sử, mà phần OcUi khiên vẫn
    ngliiêng về phía ông.
    Theo Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tháng 31096"' nhà Vua ngự trên thuyền nhỏ ra hồ Dâm Đẻưn
    Sách Việi \ứ lược nói là vào tháng 11, còn sách Việt Điện u Linh
    lại chí nói vào mùa thu. Cuộc đi chơi này, các tài liệu cho biết là
    Lý Nhân Tông dạo chơi để xem đánh cá.

    ...

    trong lick sứ V iê t N a m

    15

    (HỒ Tây ngày nay) để xem ngư dân đánh cá. Đang yên
    lành, chợt có mây mù nổỉ lên, giữa đám mây mù, bất
    thần nhà vua và các cận thần nghe thấy tiếng mái chèo
    rào rào và một chiếc thuyền nhỏ lao vun vút đến.
    Hoảng sỢ, nhà vua liền lấy gỉáo ném vào chỗ ấy. Ngay
    lập tức mây mù tan, vua thấy trong thuyền là con hổ
    vằn vện rõ to đang nhe răng giđ vuốt gầm gừ. Giữa lúc
    mọi người tái mặt sợ hãi, lắp bắp “Việc nguy rồi!”, thì
    Mạc Thận - vốn quen với việc sông nước và cảnh quan
    Tây Hồ trong những lần đánh bắt cá nên đầy bình
    tính, quăng lưới trùm lên mình hổ. Sau khỉ biết hổ bị
    sa bẫy, mọi người bình tâm nhìn lại và nhận ra con hổ
    chính là Thái sư Lê Văn Thịnh.
    Từ sỢ thành giận, nhà vua ra lệnh cho các quan
    đại thần lấy giây sắt trói ngliiến lại và giải về ữiều.
    Từ địa vị của người khai Quốc công thần, cầm cần
    nẩy mực, thân cận với triều đình trở thành kẻ mưu
    phản, đạỉ ác, lẽ ra ông bị tru di tam tộc như lịch sử
    sau này đả lặp lại với vụ án Lệ Chi viên của quan đại
    thần Nguyễn Trãi. Vì ông có tư tưởng đổi mới, liêm
    chính, nên bị lắm kẻ Xiểm nịnh, tìm cách hãm hại,
    song cũng lắm người ủng hộ, bảo vệ ông.
    Truyền thuyết người dân trong làng kể rằng, trong
    buổi luận tội Lê Văn Thịnh, các quan thù ghét đều đưa
    ra quan điểm chặt đầu ông. Tội giết vua phải chu di cửu
    tộc, xưa nay vẫn thế. Một vị quan văn hỏi: 'Tội giết vua
    thì chu di cửu tộc, nhưng tội giết thầy thì xử thế nào?”.
    Chỉ nhờ công lao của ông với lịch sử nước nhà, cũng là
    bởi triều đại ông sống, thiên về đạo Phật, kiêng sát sirứi
    (cả nước có tới 50% số dân là sư sãi trong chùa), vua Lý

    16

    T ra n ^ n ^iyén Jãc hièt...

    Nhân Tông lại là học trò của Lê Văn Thịnh, nên ông chỉ
    bị án di lý, đi đầy trảm dặm ở vùng Thao Giang (nay là
    vùng Tam Thcuih, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ), một
    vùng núi độc, rừng thiêng mà đến tận bây giờ, người dân
    vẫn còn truyền khẩu câu ca:
    Sông Thao nước đục, bờ nông,
    A i lên tới đó thì không đường về.

    ở độ tuổi gần 60 mà phải đầy lên mạn ngược, gió
    lam, chướng khí, trong cảnh oan khiên, không biết ông
    sống thêm được bao năm, song khỉ mất, ông được người
    ăn kẻ ở đưa về chôn cất ở quê nhà. Nơi đó là thôn Bảo
    Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tình Bắc Ninh ngày
    nay, ngay ưong khu vực chùa Bút Tháp'''.
    Vụ án trên hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) xảy ra vào năm
    1096 đối với Thái sư, Trạng nguyên Lê VỄUI Thịnh - vỊ
    Trạng nguyên đầu tiên của nước Đại Việt, tính đến nay
    đã hơn 1000 năm. Từ đọc trong sử sách, đến việc về
    tận quê hương của Trạng nguyên Lê Văn Thịnh, tiếp
    xúc với dân gicUi thấy câu chuyện về Lê Văn Thịnh
    khác hẳn như trong sử sách đã ghí. Trước và sau sự
    kiện 1096, trong sử không thấy ghi sự việc gì liên quan
    đến Lê Văn Thịnh với vụ án này, mà chỉ dẫn ra một sự
    việc khá hàm hồ là “Lê Văn Thịnh có gia nô người
    nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật
    ấy toan làm chuyện thí nghịch”.
    Thời đại Lý Nhân Tông mà Trạng nguyên Lê VỄm
    Lược trích theo Trạng Nguyên Lê Văn Thịnh - Oan Khiên Đen
    Tận Bao Giờ? cùa Trần Khải Thanh Thuỳ.
    Nguồn: http://trankhaithanhthuyvan.blogspot.com/

    ... tro/ig lick

    sử V ỉi t ĩ ỉ a m

    17

    Thịnh phò tá là một thời đại hùng mạnh, giàu đủ như
    trong sử đả gliỉ rỏ. Một vị Thái S IÍ , một Trạng nguyên
    giỏi giang thông thái nhií Lê Văn Thịnh không thể
    mượn phép thuật để mưu phản “giết vua”. Thử hỏi,
    một mình ông đứng ra giết vua ở vào thời đại đó, để
    làm gì? Trước sau trong sử không hề glii ông có hiềm
    khích, thù oán, xung khắc gì với triều đình, với vua và
    Hoàng Thái hậu - sử không hề glii ông có phe nhóm,
    bè đảng và âm mưu gì.
    Vậy Trạng nguyên Lê Văn Thịnh giết vua vì mục
    đích
    Hơn ngliìn nám trôi qua, sự việc ở hồ Dâm
    Đàm vẫn treo trên đầu các tliời đại một câu hỏi lớn.
    Hiện quê hương của Trạng nguyên Lê Văn Thịnh, nhân
    dân trong vùng sùng kính trân trọng ông tột bậc, có 2
    khu di tích lập ra để thờ ông (ở Thuận Thành và Gia
    Bình), khu lăng mộ của ông đâ được trùng tu nhiều
    lần đến nay rất quy mô và bề thế.
    Sau nghìn năm nhìn lạỉ, dưới ánh sáng khoa học
    hiện đại, tác giả nghiêng về phía Trạng nguyên Lê Văn
    Thịnh bị oan nhiều hơn. Có thể vì là người tỉnh thông
    lỗi lạc, lại quan hệ với vua và các quần thần như người
    ãn kẻ ở trong nhà nên khỉ thấy vị vua trẻ ra hồ xem
    ngư dân đánh cá (khi ấy vua Lý Nhân Tông mới bước
    sang tuổi 45) nên Lê Văn Thịnh nẩy ra ý định nghịch
    ngợm, ữêu chọc bằng cách khoác tấm da hổ lên người
    rồi ngồi rình ở ven bờ trong đám lau lách rậm rạp
    (cách đây cả nghìn năm thì Hồ Tây còn um tùm, rậm
    rạp. lắm chim muông, thú dữ lắm). Khỉ thấy thuyền
    của vua tiến ra giữa hồ, liền lợi dụng lúc sương mù dày
    đặc nổi lên, chèo thuyền bơi ra, doạ vua một phen

    1 8 T^lìững T rang nguyên dăc Liêt...

    chơi, không ngờ nhà vua vì lo sợ cuống cuồng mà làm
    lệch thuyền, khiến thuyền bị lật úp. rơi tõm xuống hồ,
    cả tấm thân nghìn vàng ướt lướt thướt, run lẩy bẩy.
    Thế là từ đùa hoá thật, quá mù ra mưa, Lê Văn Thịnh
    bị khép tội mưu phản, giết vua để cướp ngôi.
    Củng có thể vì nhà vua ham vui tửu sắc, hay có
    vấn đề về sức khoẻ, ngồi trong cung cấm lâu ngày nên
    khi bơi ra giữa hồ gặp cảm mạo, giữa sương mù bảng
    lảng như khói như mây, nên trông gà hoá cuốc, trông
    vị Thái sư lạl thành hổ vằn vện nên đã kết tội oan sai
    cho cận thần của mình.
    Nhiều giả thuyết nghiêng về việc Lê Văn Thịnh- với
    tư cách tể tướng, Thái sư nên đã thực hiện cải cách về
    chế độ kinh tế-xâ hội, quân sự theo tân pháp của nhà
    Tống do Vương An Thạch đứng đầu. Điều đáng tiếc,
    các cải cách này được lợi cho muôn dân nhưng lại
    đụng vào lợi ích thiết thân của các quan lại trong triều
    nên đả thất bại thảm hạl, Bản thân Vương An Thạch bị
    đuổi về quê đuổi gà, làm vườn cho vỢ. Thời đó, các thể
    chế Đại Việt đều mô phỏng theo thể chế của nhà Tống
    nên khi Vương An Thạch bị thất sủng thì Lê Văn Thịnh
    cũng phải chịu kết cục tương tự.
    Còn một giả thuyết khác, vẫn thường xảy ra với các
    triều đại từ xưa đến nay là Trạng nguyên Lê Văn Thịnh
    do quá nghiêm khắc ữong việc dạy bảo các cậu ấm cô
    chiêu của hoàng tộc theo đúng lễ nghĩa phép tắc của
    triều đình nên bị ganh ghét, đàm uếu, đố kỵ rồl bị các
    đại thần vu oan giáng hoạ mà phải chịu án lưu đầy cho
    khuất mắt họ?
    Lý giải về việc này, sử sách xưa chép lại: “Đương

    ...

    trong lích sử V iê t ^ a m

    19

    thời, khi còn là tể tướng, Lê Văn Thịnh có một người
    hầu cận, nguyên quán ở Việt Nam, nhưng theo học
    thầy tàu tận Trung Quốc, biết làm phép thả hơi mù và
    biến thành hổ báo để doạ nạt mọi người cầu lợi, cầu
    vinh, ra oai với thiên hạ. Do yêu mến vị Trạng nguyên
    đầu tiên của nước nhà mà truyền đạt lại cho thầy và Lê
    Văn Thịnh đã dày công luyện rèn để học được phén
    tliuật ấy rồi lập tâm giết vua để cướp ngôi. Khi kế
    hoạch bị bại lộ đã bị khép tội, đánh tuột mọi chức
    tước, lột áo mũ ô sa và chịu án lưu đày”.
    Dù thế nào thì mọi sự lý giải về Trạng nguyên Lê
    Văn Thịnh vẫn chỉ là phỏng đoán, song các giả thiết
    nghiêng về việc ông bị hàm oan là có thật.
    Chắc hẳn trước khỉ chết ông đả để lại lời ữăn trối
    cho con cháu và họ hàng thân thích, \à thế, vào thời Hậu
    Lê, khỉ ông đã được giải oan, cháu con ông mới cho đúc
    một pho tượng bằng đá nguyên khối tạc hình một con
    rắn lớn (dang rồng) ừong tư thế “miệng cắn thân, chân
    xé mình” hòng toát lên nỗi đau đớn, phẫn uất như vậy.
    Ngày nay, đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh còn lưu
    giữ nhiều tài liệu, hiện vật phong phú như: hai ngai thờ
    tượng ông, bộ bát bửu, thần tích, 5 đạo sắc phong, đạo
    sớm nhất phong năm 1853, đạo muộn nhất năm 1924
    và hệ thống bia đá khắc dựng từ thời Nguyễn, đôi câu
    đối, cuốn thư và nhiều đồ thờ bằng đồng, gỗ, gốm. sứ.
    Đó là những di sản văn hóa quý từ thời Hậu Lê để lại,
    góp phần làm tăng thêm giá trị lịch sử và nghệ thuật
    cho nước nhà.
    Tượng ông đặt trong khám thờ sơn son thếp vàng
    lộng lẫy ở phần tTcUig trọng nhất nơl Hậu cung. N ^ệ

    20

    ĩ^ ỉ liữ n g T r a n iị n g u y ê n íiăc Ị yiêt...

    ứiuật tạc tượng, điêu khắc gỗ, sơn son thếp vàng điêu
    luyện, lột tả chân dung tlut thái của vỊ quan Thái sư tàl
    năng, đức độ - ngiíời đã có công lao to lớn trong việc rèn
    dạy đấng quân viíơng tliời niên tliiếu, đồng thời cả trong
    mặt trận ngoại giao, kinh hang tế thế với viíơng triều lứià
    Tống để đòi lại lảnh tliổ cho đất nước từ thời Lý, cách
    đây cả nglùn năni, ngược hẳn với pho tượng rồng đầy uất
    kết “miệng cắn thân, chân xé mình” phía ngoài miếu thờ.
    TiíỢng rồng được tạc bằng đá nguyên khối, có tư thế
    khoanh mình Uiành hình tròn, tliân mình to lớn, toàn
    thân chạm vảy dày, hai mắt trợn tròn, hai chân trước xoè
    rộng, gcln guốc, năm ngón với móng vuốt sắc nhọn bấu
    chặt vào khúc tliân, miệng há rộng ngoạm vào mình.
    Chiều cao của tượng là 0,76m, chiều ngang là 1,12m,
    clũều dài từ ưước ra sau là 0,96m. Điều đáng nói là hình
    ảnh của con rồng đá này rất đặc biệt, klĩông giống với bất
    cứ hình ảiứi rồng Việt ở bất cử triều đại nào tìíng được
    biết đến, lại càng không giống với bất kỳ hình ảnh rồng
    Trung Hoa nào. Pho tiíỢng rồng này mang phong cách lạ
    lùng và dữ dội để lại những cảm xúc mảnh liệt cho người
    xem và khiến nhiều ngiíời liên tưởng rằng pho tượng
    chính là “hiện thân” của nỗi oan khiên lịch sử mà ông đã
    phải chịu đựng. Bức tượng đó bây giờ đặt ở bên ữái sân,
    hướng đi vào đền thờ Thái sư Lê Văn Thịiứi. Bức tượng
    có hai tai nhưng cliỉ một bên tai có lỗ (tai trái) còn một
    bên tai bị bịt chặt. Thần thái của tượng rồng không nằm
    trong cảm quan uy ngliíêm, thư thái của người xưa mà
    ngược lại. Đó là nliững nét dữ dằn trên khuôn mặt và tir
    tliế rất kỳ dị: Miệng cắn thân, chân xé mình. Hình tượng
    đó gỢi nhiều liên tưởng: Một là, tượng rồng có thể là hiện

    ...

    trong lick sứ V iê t N a m

    21

    ứiân của vua Lý Nhân Tông đang dày vò trong suy nghĩ
    dằn vặt mìnli bởi chính mình đã không tliấu đạt mọi
    việc, nghe chuyện thị phi từ một phía mà để lại oan ức
    cho một con ngiíời. Hai là, coi tượng rồng như hiện thân
    của Thái sit Lê Văn Thịnh, vì quá uất ức, quá oan uổng
    mà miệng không nói nên lời, hình hài cũng vì phẫn nộ,
    suy ngliĩ nhiều mà kliông còn là chính mình được nữa
    (chân xé mình, tai hỏng). Tuy nhiên dù có liên tiíởng
    tlieo cách nào diì củng nói lên được nỗi oan của vị Thái
    sư tài giỏi: Ông không hóa hổ giết vua.
    Đã hơn 10 thế kỷ trôi qua, dấu xưa đã phôi pha
    chẳng còn bao vết tích. Ngay trong sử sách có nhiều
    điều bị thêm bớt, sửa chữa cách nay nhiều thế kỷ nên
    ngày nay có nhiều điều chúng ta chưa đưỢc rỏ. Theo
    cố GS Trần Quốc VưỢng trong lời đầu sách khi dịch
    “Việt sử lược” (thế kỷ xrv) cho biết: “Quyển sử đầu tiên
    của nước ta - cho đến nay được biết là sách “Đại Việt
    sử ký” do Lê Văn Hưu soạn, đời Trần Nhân Tông năm
    Nhâm Thân 1272. Sách ấy ngày nay không còn nữa.
    Nó đã bị thêm bớt, sửa chữa, bao gồm vào sách
    “Đại Việt sử ký toàn thư” (...). Những sách sử đời Trần
    còn lại đến ngày nay chỉ còn thấy hai bộ: Một là sách
    “An Nam chí lược” của Lê Tắc soạn ở Trung Quốc vào
    năm 1333. Còn bộ sử thứ hai là một bộ sách nhỏ, gọi là
    sách “Việt sử lược”. “Việt sử lược” là do một tác giả cuối
    đời Trần đã hrợc lại “Đại Việt sử ký” của Lê Văn Hưu
    (...). Theo Ngô Sĩ Liên, sách “Đại Việt sử ký” của Lê Văn
    Hưu gồm 30 quyển, mà nay phần còn lại trong 'Toàn
    thư và Việt sử lược" không còn là bao. Điều đó chứng tỏ
    cả hai sách đá lược bớt Đạí Việt sử ký rất nhiều”.

    22 ĩỉliữnỵ Ttang ngiiyéii Jăc Liét...
    Người dân trong vùng truyền đi những giai thoại
    đẹp về vị Trạng nguyên đầu tiên của nước Việt, và vụ
    án được ghi trong sử đã được Ỷ Lan Hoàng Thái hậu
    giải oan từ khi bà còn sống, được thể hiện qua pho
    tượng điêu khắc rồng hiện đang được thờ tại đền thờ
    Trạng nguyên Lê Văn Thịnh.
    Truyền rằng, sau khi đỗ đạt, một ngày mùa hạ, Lê
    Văn Thịnh về quê ngoại ở Ngô Xá trang để bái yết tổ
    đường. Đến nơi mây che tứ phía, trời đất tối sầm,
    không thể đi được. Phút chốc trời lại quang đãng. Các
    tầng lớp ở Ngô Xá từ bô lão, sĩ phu đến trai tráng đều
    sỢ hãi mà ra bái yết và tự nhận là gia thần - tôi con của
    ông. Lê Văn Thịnh truyền bảo quân sĩ đóng tại đấy,
    sửa soạn yến tiệc, mời mọi người ăn uống.
    Bô lão thưa rằng: “Ngô Trang là quê ngoại của thân
    mẫu quan Trạng, quan Trạng củng coi như quê nội, thật
    là cảm kích, xin quan Trạng cho nơi đặt yến tiệc này, sau
    làm nơi thờ cúng Người”, ông nhận lời. Nhân dân đã để
    ra 50 mẫu ruộng để hàng năm tế tự và tu sửa đền thờ.
    Một hôm Lê Văn Thịnh về thăm lối cũ, trường xưa
    ở Chỉ Nhị trang, nhà trường làm lễ đón tiếp trọng thể.
    Tỏ lòng biết ơn ông, các môn sinh và nhân dân tự xin
    nhà học để làm đền thờ qucUi Trạng sau này. ông
    thuận lòng và tặng nhà trường ba chữ “văn xỉển giáo”
    (ba chữ này được nhân dân khắc vào cuốn thư treo tại
    đền thờ ông), mọi người vui mừng bái tạ.
    Một ngày mưa gió, sấm chớp, trời tối sầm, bỗng có
    đám mây ngủ sắc bay về bầu trời Đông Cứu; trong
    đám mây đó có dáng hình Lê Văn Thịnh. Khi trời
    quang mây tạnh, không thấy bóng ông nữa. Và, phía

    ...

    trong lick sứ V i i t ĩ ỉ a m

    23

    chân núi, nhân dân thấy có một đống đất mối đùn to,
    bèn đắp thành ngôi mộ và lập đền thờ ông gần đấy.
    Hôm đó là ngày mồng bảy, diáng Giêng, chính là ngày
    Lê Văn Thịnh hóa.
    Nhân dân làng Đình Tổ, xã Đình Tổ, huyện Thuận
    Thành diường gọi ông là “ông Trạng Đông Cứu”.
    Truyện về ông ở Đình Tổ tương tự truyền thuyết và
    thần phả ở Bảo Tháp. Riêng chi tìết Lê Văn Thịnh hóa,
    ở Đình Tổ gọi là ngày mất, và kể có khác.
    Truyện kể rằng: Vào phiên chợ Đình Tổ, ngày hai
    mươi bốn tháng chạp, Lê Văn Thịnh trên đường từ
    Thao Gicmg về quê, do sức yếu nên khi đến đấy, ông bị
    ngã vào quầy kim dao rồi mất. Nhân dân lo sỢ, đặt ông
    lên thuyền nan đẩy ra hồ sen ven sông Dâu, để thi hài
    trên đám bèo rồi úp thuyền lên. Ngày sau mối đùn chỗ
    ấy thành mộ. Với những giấy tờ tùy thân và quan niệm
    chết vào giờ linh, nhân dân Đình Tổ đã lập ông làm
    Thành hoàng làng.
    Sau ngày Lê Vãn Thịnh mất, nhân dân một số làng
    ở Gia Bình, Quế Võ, Thuận Thành lập đền thờ và tôn
    làm Thành hoàng. Đời Cảnh Hưng năm thứ 28 (1767)
    và các triều đại phong kiến sau này đều ghi còng và gia
    phong Thành hoàng.
    Ngày 5/2 năm 1994, Nhà nước cấp Bằng còng nhận
    Di tích Lịch sử - Văn hóa đền thờ Trạng nguyên Lê Văn
    Thính tại làng Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bìiứi.
    Văn Thảo
    Tổng hỢp từ các nguồn: www.bacninh.gov.vn;
    http://news.zing.vn/: Web Vietnam News Network
    và các tài liệu khác

    24

    l^liĩriìỊỊ T i Yf/Ig tìíỊỉtyên <ỉăc hièt,..

    TRẠNG NGUYÊN
    NGUYỄN Q U A N Q U AN G
    Trong lịch sử khoa cử nho học Việt Nam, kể tìí
    khoa thi đầu tiên, gọi là thi nho học Tam trường vào
    năm Ầt Mão (1075) đời Lý Nhân Tông, trải qua hơn
    100 nám, năm 1239, niên hiệu Thiên ứng Chính Bình
    thứ 8 đời vua Trần Thái Tòng, đả có 5 kỳ thi đại khoa,
    nhưng triều Lý và đầu triều Trần đều chưa lấy đậu
    Trạng nguyên.
    Các vị đỗ đầu như Lê Văn Thịnh, Mạc Hiển Tích, Bùi
    Quốc Khái. Trương Hanh và Lim Miễn chỉ được lấy đỗ
    đầu nhất giáp... Phải tới khoa thi tliứ 6 (khoa Đại tỉ tíiủ
    sĩ) vào năm Bứili Ngọ (1246), niên hiệu Tlúên ứng Chúih
    Bình thứ 15, đời vua Trần Thái Tông mới đặt danh hiệu
    Tam khôi (Trạng nguyên - Bảng nhãn - Thám hoa) và
    Nguyễn Quan Quang đã đậu Trạng nguyên, Phạm Văn
    Tuấn đậu Bảng nhãn, Vương Hĩíu Phùng đậu Thám hoa
    (theo Cdc nhà khoa bảng Việt Nam).
    Vậy là. ông Nguyễn Quán Quang, người xã Tam
    Sơn, huyện Đông Ngàn, Kinh Bắc, nay là xã Tam Sơn,
    Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, là vị Trạng nguyên đầu
    tiên của đất nước. Các sỉí gia, các tác giả phong kiến
    đ...
     
    Gửi ý kiến