Trường học thân thiện
Chào mừng quý vị đến với Thư viện điện tử phòng GD&ĐT Huyện Quỳ Hợp.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Truyen cua linh tay nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Lan
Ngày gửi: 12h:11' 01-05-2024
Dung lượng: 391.2 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Vương Thị Lan
Ngày gửi: 12h:11' 01-05-2024
Dung lượng: 391.2 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Lời tác giả
CẢM NHẬN
CHƯƠNG I
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG VIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
PHỤ LỤC
Lời tác giả
Thưa bạn đọc!
Chiến tranh đã lùi xa chúng ta đã khá lâu. Quãng thời 30 năm kể từ khi
kết thúc chiến tranh biên giới đến nay đủ để ký ức vui buồn về nó đang dần
trôi xa... Nhưng dù sao đi nữa, những người lính cầm súng những năm chống
Mỹ cứu nước và nhất là những người lính chiến đấu trong những năm 1976
-1979 vẫn còn sống quanh tôi tới ngày nay, chính họ đã làm nên bản tình ca
bất diệt cho lòng quả cảm hy sinh vì đất nước. Nhờ có những người lính năm
xưa, tôi đã thấy giá trị của sự yên bình mà tôi đang được sống. Cũng vì lẽ đó
tôi muốn viết về họ với một niềm tự hào từ sâu thẳm trái tim mình.
Khi tôi thực hiện viết cuốn sách thì một số nhân vật của tôi đã vào tuổi
xưa nay hiếm, số khác cũng không còn khoẻ mạnh. Nếu tôi chậm trễ chút
nữa thì rất có thể, rất nhiều tư liệu quí báu về chiến tranh sẽ không còn đến
tay tôi cùng độc giả hôm nay và mai sau. Vì tôi biết, hiện nay còn có quá
nhiều thông tin về chiến tranh đang vô tình bị chìm vào thời gian.
Với tinh thần nâng niu những gì thuộc về ký ức chiến tranh, tôi cố gắng
thu thập thông tin từ những người lính đã từng tham gia chiến tranh biên giới
Tây Nam, những người chỉ huy và cả những người mẹ, người vợ của họ để
làm tư liệu viết nên cuốn sách “Chuyện của lính Tây Nam” này, với mong
muốn đem đến cho độc giả cảm xúc chân thật nhất về chiến tranh biên giới
Tây Nam - điều mà bấy lâu nay ít ai biết tới.
Nhân vật chính trong cuốn sách tôi viết là một người lính vận tải có
nhiệm vụ chính là tải thương, tải đạn. Cũng bởi anh lính không phải trực tiếp
tham gia chiến đấu nên anh có nhiều cơ hội quan sát khá tinh tế về những gì
xảy ra xung quanh anh chăng?
Trong câu chuyện của tôi, với nhận thức của lứa tuổi 20 trong thời điểm
bấy giờ, người lính trẻ cư xử và suy nghĩ rất tự nhiên như chính cuộc sống
chiến trận đã tạo nên. Anh ta đã có lúc hèn nhát, có lúc rất kiên cường…
Tuy nhiên, vì khả năng có hạn nên cuốn sách tôi viết có thể chưa chuyển
tải hết tinh thần khốc liệt, tầm vóc của cuộc chiến... hay một vài chỗ chưa
vừa lòng bạn đọc. Rất mong bạn đọc lượng thứ và góp ý.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2010
Thủy Hướng Dương
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
CẢM NHẬN
Có lẽ Thủy Hướng Dương là một người phụ nữ đã dành một tình yêu với
lính rất đặc biệt tới mức hòa nhập được cảm xúc thực của người lính trong
chiến tranh.
Chuyện viết rất thực, nêu bật được tình hình cam go và khốc liệt của
chiến trường Campuchia lúc đó. Điều mà chỉ có người lính tham chiến thật
mới hiểu và viết lên những sự thật mà sách báo không dám nói như thế.
Cảm ơn Thủy Hướng Dương đã chịu khó nghe kể chuyện lính, hỏi kỹ
tình tiết và viết nên được câu chuyện rất thật, rất bi hùng này của những
người lính tình nguyện Campuchia một thuở.
Vũ Chiến
Lính tình nguyện Campuchia.
Có cảm giác chị Thủy Hướng Dương viết truyện này cứ như đã trực tiếp
tham gia trong chiến tranh, từ cách thể hiện diễn biến tâm lý, tình cảm của
nhân vật đến diễn biến của các trận chiến, thật khốc liệt với những mất mát
đau thương. Có những đoạn khiến người đọc như đang ở trong hoàn cảnh đó,
hồi hộp đến nghẹt thở rồi phải trào nước mắt vì xúc động. Chiến tranh được
mô tả trần trụi khốc liệt đầy sinh động về người lính qua ngòi bút của cây
viết nữ thật đáng khâm phục.
Cung Diễm
Sinh sau năm 1970, Thủy Hướng Dương chỉ nghe kể chuyện lúc rảnh rỗi
thôi mà viêt được những mấu chuyện lính rất thật, như người trong cuộc,
khiến tôi kinh ngạc và thán phục cô ấy. Những mẩu chuyện viết rất chân
thật, mạch lạc và dễ cảm nhận. Thủy Hướng Dương đã mô tả cuộc sống đời
lính rất thật, muôn hình muôn vẻ, “rất lính”.
Trinh sát
Thành viên Quansuvn.net
Thủy Hướng Dương có lối viết dung dị - dung dị như đời lính. Có lẽ vì
bản thân hiện thực khốc liệt cả máu, nước mắt, nụ cười, vừa mang đậm chất
hùng ca vừa mang chất bi kịch đã tự thân toát lên sức hấp dẫn của nó mà
không cần pha thêm một chút mắm muối, hay màu mè.
Qua câu chuyện của Tuấn “tròn”- một anh lính vận tải (rồi “có chức”)
vui tính, thông minh, mê văn chương có khả năng quan sát tốt, một góc cuộc
chiến tranh biên giới Tây Nam đã hiển hiện sống động. Tính khốc liệt của
cuộc chiến, tình đồng đội, những chi tiết thú vị của đời lính, sự hài hước vui
đùa, những trò nghịch ngợm để quên đi lằn ranh mong manh giữa sống và
chết...
Đặc biệt nhiều trang viết đậm đặc những chi tiết đắt giá, xúc động của
người lính, khi trung đội của Tuấn nỗ lực đánh đổi cả mạng sống của mình
để đưa tử sĩ về chôn, khi Ấn sa chân vào hố chôn người của bọn Pôn Pốt hay
khi 6 người bạn của Tuấn cùng hy sinh một thời điểm khi xe bò của họ trúng
mìn...
... Thủy Hướng Dương đã lựa chọn một đề tài “độc”. Chủ đề quân đội
không “độc”, nhưng mảng đề tài chuyên biệt trong chủ đề lớn quân đội mà
chị chọn là “độc”.
Nhà báo Việt Văn
(Báo Lao động)
CHƯƠNG I
Đầu tháng 12 năm 1977, đơn vị tôi đang đóng quân ở Bỉm Sơn - Thanh
Hóa thì được lệnh vào chiến trường Tây Nam để chiến đấu. Cả đơn vị xôn
xao, bàn tán suốt cả ngày. Lại chiến tranh ư? Vừa giải phóng Miền Nam
xong, mới thống nhất đất nước, sao còn đánh nhau nữa? Mà đánh nhau với ai
kia chứ? Cứ tưởng rằng đợt lính nhập ngũ năm 1976 chúng tôi chỉ còn là
lính nghĩa vụ, đi để xây dựng một quân đội thật chính quy và hiện đại thôi.
Ai ngờ...
Nhưng cũng đúng thôi, chúng tôi được biên chế vào quân đoàn 1, F320,
E48 - quân chủ lực cơ mà. Hơn nữa quân đoàn này có truyền thống trăm trận
trăm thắng, nổi tiếng từ hồi chống Mỹ.
Cho đến lúc này thì đơn vị tôi, nhất là C11 toàn lính Hà Nội. Hầu hết
chúng tôi đều ở cùng tiểu khu Quang Trung, quận Đống Đa nên một số đã
quen biết nhau vì đều cùng học với nhau ở trường cấp 3 Đống Đa cả.
Từ bây giờ, chúng tôi mới bắt đầu theo dõi thời sự qua Đài tiếng nói Việt
nam, biết rằng ở Xa Mát, Lò Gò, Tây Ninh vừa có một vụ thảm sát cả cô lẫn
trò trường tiểu học Xa Mát cùng một số dân thường ở đó do quân Khmer Đỏ
tràn sang gây hấn.
Cả đơn vị tôi sục sôi. Ai cũng muốn mau chóng được vào ngay chiến
trường. Tôi cảm thấy trong đại đội tôi không có ai tỏ ra lo sợ cả, mặc dù
chưa ai biết đánh nhau là gì và sẽ như thế nào. Trong những ngày chờ đợi,
chúng tôi ai cũng tranh thủ viết thư về nhà, cho gia đình, bố mẹ, người yêu...
là mình chuẩn bị “được” vào Tây Ninh chiến đấu.
Sốt ruột chờ đợi, rồi cũng có lệnh lên đường. Sáng ngày 15-12- 1977, tất
cả chúng tôi rời Bỉm Sơn - Thanh Hóa, nơi đã gắn bó chúng tôi gần một năm
trời với bao kỷ niệm vui, buồn.
Cả Trung đoàn 48 chúng tôi lên đường! Không phải, cả sư đoàn thì đúng
hơn. Quân, tư trang thật gọn nhẹ chỉ với một ba lô con cóc, chúng tôi ra đi
chiến đấu, rời miền Bắc thân yêu, nhẹ nhàng như là một buổi đi tập dã ngoại
và hiện đại hơn lớp cha anh thời chống Mỹ ở chỗ chúng tôi được hành quân
bằng ô tô thay vì phải đi bộ hàng tháng trời mới vào tới chiến trường. Từng
đoàn xe ô tô, chở cả trung đoàn vào biên giới Tây Ninh, nơi chiến trường
mới đang chờ đón.
Trên suốt dọc đường hành quân, tất cả anh em chúng tôi lại càng gắn bó,
thân thiết với nhau hơn bao giờ hết, chốc chốc những lời ca của bài hát “Đại
đoàn đồng bằng” và “Tôi xa Hà nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu” lại
vang lên trong mỗi chiếc xe.
Mãi cho đến tối 23-12-1977 thì chúng tôi vào tới Xa Mát, Lò Gò (Tây
Ninh) và đổ quân xuống một cánh rừng giáp biên giới Campuchia. Phần vì
mệt do đi đường xa, phần vì lần đầu tiên trong đời bộ đội nằm đất, ngủ rừng
nên lúc đầu chúng tôi túm tụm lại rì rầm trò chuyện nhưng rồi chỉ ít phút sau
đã thiếp đi lúc nào không hay, mặc cho phía sau cánh rừng tiếng súng nổ đì
đùng...
* * *
Sáng ngày hôm sau, tất cả trung đoàn chúng tôi được biên chế lại. Tôi cứ
tưởng thế nào tôi cũng được ở cùng với anh em trong đại đội C11 thân yêu
của tôi, nhưng hóa ra không phải. Tất cả chúng tôi bị chia nhỏ để bổ sung
vào các đơn vị khác nhau. Chủ yếu là về F320 và F10 quân đoàn 3. Một số
vẫn ở lại E48, một số về E64, gần một nửa nữa về sư 10 và một ít về E52
trong đó có tôi.
Lúc các đơn vị đến nhận quân, mọi người khẩn trương lần lượt về đơn vị
mới. Tôi ôm lấy Vọng con, Thái, Long Khùa, Vinh kều... rồi gạt nước mắt
mà chia tay. Một thoáng suy nghĩ đến sự sống chết lướt qua trong đầu tôi rất
nhanh: “Không biết có còn gặp lại chúng mày nữa hay không”.
Điểm lại tình hình, chỉ còn một số ít anh em, tôi, Dũng con, An, Minh
sứt và mấy người nữa... An, Minh sứt, Thỏa chúng nó được ở với nhau về
đại đội công binh, sướng thế! Dũng con và mấy thằng nữa về bộ binh. Còn
lại mỗi mình tôi về đơn vị mới thành lập ngày hôm đó là C25 vận tải.
Tôi phát khóc vì toàn bộ số anh em thân thiết ở đại đội đều được ở với
nhau chỉ mỗi tôi phải đi đơn vị khác. Mặc dù tôi đã cố kìm, nhưng nước mắt
vẫn trào ra. Trong tôi tràn ngập cảm giác lạc lõng vì phải ở một đơn vị toàn
người xa lạ. Ở đơn vị cũ, đi bất cứ chỗ nào cũng được anh em gọi: “Ê, Tuấn
tròn, Tuấn tròn... lại đây với bọn tao!” đầy thương mến mà nay phải ở một
mình một đơn vị thử hỏi thằng tôi không khóc làm sao được?
* * *
Tôi vác ba lô về đơn vị mới và được đề bạt làm tiểu đội trưởng tiểu đội 1.
Thật quá ngạc nhiên! Tôi không hiểu sao mình lại được làm tiểu đội trưởng
vì tôi rất nghịch và ngang bướng.
- Kệ, cứ để xem sao - Tôi nghĩ vậy. Tiểu đội tôi có mười hai chiến sĩ và
tôi bất ngờ phát hiện ra tiểu đội mình toàn lính cựu: ba ông lính 74, tám ông
lính 75, có mỗi mình tôi là lính 76 mà lại bé loắt choắt. Tôi đâm lo thật sự.
Không biết mình sẽ chỉ huy mấy ông anh thế nào bây giờ đây. Lúc tập trung
tiểu đội, tôi hơi cuống và giới thiệu liền một mạch:
- Tôi - Tuấn tròn, người Hà Nội, tiểu đội trưởng. Còn các ông anh? Tên
gì, ở đâu?
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, rồi nhìn tôi hơi có vẻ ngỡ ngàng. Có một
anh bỗng đứng dậy hô rất to:
- Tôi, binh nhất Trần Vòng, lính 75!
Rồi cứ thế... Sơn 75, Ần 75, Bình 75, Sáng 75, Soạn 75, Bình voi 75,
Cường 75, Long Fulro 74, Khang 74,
Và cuối cùng:
- Hùng 74. Báo cáo: Hết!
Điểm danh với nhau xong mọi người phá lên cười. Cười vì cái cách của
tôi cũng ngang tàng không kém gì các đàn anh. Tôi biết, vậy là ổn. Tôi tranh
thủ phổ biến công việc vận tải của chúng tôi phải làm là mang súng, đạn
dược xuống tận các chốt chiến đấu, đưa thương binh tử sĩ về hậu phẫu trung
đoàn.
Tất cả sẵn sàng chuẩn bị cho chiến đấu! Đêm Noel 24 tháng 12.1977,
chúng tôi hành quân từ Sa Mát vào sát biên giới, đóng quân dọc con suối Đà
Ha. Con suối này một phần nằm trên đất Việt Nam, một phần nằm trên đất
Campuchia, nếu không có chiến tranh thì chắc con suối này sẽ là con suối rất
thơ mộng như cái tên của nó. Nhìn con suối nước trong veo, róc rách chảy
hiền hòa và những cây leo từ trên cây cổ thụ thõng xuống dòng nước thế này
sẽ không ai có thể tưởng tượng được chính con suối này đã chứng kiến bao
nhiêu sự chết chóc của cả hai bên đối địch. Cũng chính con suối này, mỗi lúc
bọn tôi xuống tiểu đoàn về đều qua đây nhảy ào xuống tắm mát vô cùng. Có
lần chúng tôi còn bắt gặp một con trăn, mình của nó bằng bắp chân người,
bọn tôi giơ súng lên bắn nó mấy phát chẳng biết nó có bị trúng đạn không
nhưng thấy nó chạy rẽ nước mất hút, làm chúng tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ.
Tiếng súng ngày càng gần và càng dữ dội hơn. Chúng tôi ở bên này suối
còn địch ở bên kia. Đơn vị chúng tôi có nhiệm vụ đánh bật địch ra khỏi bản
Không tên bên này bờ suối, hất chúng ra khỏi biên giới của ta. Tiểu đội tôi
phụ trách tuyến tiểu đoàn 4. Chỉ có 12 người vừa gùi đạn xuống cho cả một
tiểu đoàn vừa đưa thương binh về tuyến sau.
Trận chiến bắt đầu từ nửa đêm cho tới trưa ngày hôm sau. Lính ta bị
thương và hy sinh khá nhiều. Toàn tiểu đội tôi cứ như con thoi chạy lên,
chạy xuống. Riêng tôi đã phải cõng gần chục ca thương binh, bộ quân phục
đang mặc trên người ướt sũng máu của đồng đội. Trong đầu tôi chỉ còn nghĩ
được mỗi một điều: “Phải cõng các anh chạy thật nhanh, không thì các anh
chết mất!” - và cứ thế, tôi quên đi cái cảm giác sợ hãi đến lạ lùng trong khi
đạn vẫn cứ chiu chíu quanh tôi...
CHƯƠNG II
Mưa. Mưa thối đất thối cát.
Mùa mưa của miền Tây Nam bộ này ghê thật. Vào đây, tôi mới thấu hiểu
được cái mùa mưa mà trong cuốn tiểu thuyết Mẫn và tôi được nhà văn miêu
tả thật đến mức nào. Nằm giữa rừng già, chỉ có cái võng và cái tăng che đầu,
một cơn gió nhẹ là mưa lại ào vào ướt hết cả. Cũng vì mưa mà cả hai ngày
hôm nay tiếng súng trên chốt đỡ hẳn. Thỉnh thoảng mới có vài tiếng AK nổ
tằng... tằng... tằng... như muốn báo với bọn địch rằng ta vẫn luôn cảnh giác.
- Này ông Vòng ơi! Dân Hải Hưng có cái gì nhỉ? - Tôi hỏi. Suốt từ hôm
vào chiến dịch tới giờ tiểu đội chúng tôi mới có thời gian nằm kề bên nhau
mà chuyện trò như thế này.
Thằng Vòng như được dịp, liền khoe:
- Nhiều lắm. Xã thằng Sơn, thằng Bình “chân Tiệp” có nhãn lồng bổ
ngập dao phay, còn xã thằng Sáng, thằng Ần có táo thiện phiến ăn ngon và
giòn, lại thơm nữa.
- Thế còn xã ông? - Tôi hỏi tiếp.
- Ồi, xã tôi gọi là đất làng vàng. Đất làng vàng là nói thế thôi chứ người
đông đất hiếm, mà là đất phèn chua, chiêm trũng nên chỉ trồng được một vụ
lúa, trồng khoai tây gối vụ. Củ nào to nhất cũng chỉ như hai hạt dái chó. Cực
lắm ông ạ.
- Vậy thì xã ông nghèo nhất à?
- Ừ - Vòng trả lời.
- À, ông Vòng này, sao lại gọi thằng Bình là Bình “chân Tiệp''?
Vòng ta cười ha hả:
- Tại gần nhà nó có xưởng làm chân tay giả của Tiệp, nó nghe người ta
bảo chân tay giả của Tiệp là tốt nhất cho nên ngồi đâu, nói chuyện gì, nó
cũng nói đến chân giả của Tiệp. Ngoài chuyện đó ra nó chẳng biết gì hơn.
Thế nên mọi người mới gọi nó là Bình “chân Tiệp”.
Cả tiểu đội mười mấy con người mà mỗi người một vẻ. Thằng Sáng thì
lúc nào cũng láu ta láu táu, thằng Soạn - tiểu đội phó của tôi thì cả ngày
không nói được nửa câu, vậy mà khi vào trận thì lì không ai bằng. Thằng
Vòng một chữ cắn đôi không biết nhưng tục ngữ và ca dao thì Vòng thuộc
không ai bằng.
Có tiếng gọi cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi:
- Ê, Tuấn tròn, Vòng! Sang tao làm điều thuốc lào.
Thì ra nghe tôi và Vòng nói chuyện với nhau, anh Long Fulro đồng
hương Hà Nội với tôi chắc không ngủ được, gọi với sang.
Tôi liền trêu:
- Sang làm gì? Em biết anh định nói gì rồi! Hì hì, em biết thừa anh lại gọi
sang nghe chuyện Fulro chứ gì.
* * *
Đã mấy tháng ở với nhau cực khổ muôn phần, không thấy anh đả động gì
đến cái sống, cái chết lúc nào cũng kè kè trong gang tấc, mà hễ có dịp ngồi
với nhau là anh lại lôi chuyện hồi ở Tây Nguyên đánh nhau với Fulro. Con
người ta kể cũng lạ, dù hiện tại có sung sướng hay cực khổ tới đâu cũng
không ngại, nhưng kỷ niệm xưa thì khó mà phai nhòa được. Hình như những
kỷ niệm xưa cũ ấy khiến cho con người sống có ý nghĩa hơn, mạnh mẽ hơn.
Cũng như tôi bây giờ, mới ngày nào còn chưa lường hết sự ác liệt của chiến
trường, nay đã trở thành một anh lính dày dạn.
Những trận chiến dai dẳng, triền miên trong mấy tháng qua nay lại tái
hiện qua giây phút nghỉ ngơi này. Rất may mắn, cả tiểu đội tôi chưa có
thương vong nào. Ngày nào chúng tôi cũng làm theo một chu kỳ khép kín.
Ban ngày thì đào hầm, hết đào hầm phẫu thuật thì đến đào hầm sở chỉ huy
rồi lại đào hầm cho thương binh nằm. Hầm chúng tôi đào thường có kích
thước rộng 3m, dài 5m, sâu 1m8, trên lát gỗ để tránh pháo. Tối đến, tải đạn
xuống cho các Tiểu đoàn và lấy thương binh, tử sĩ về. Nói tóm lại, chúng tôi
phải lo đủ đạn dược cho toàn trung đoàn.
Một núi công việc khổng lồ tưởng như ngoài sức chịu đựng của con
người, vậy mà chúng tôi vẫn luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ. Dù sao vẫn còn
sướng hơn anh em bộ binh, cả ngày nằm dưới hầm chữ A, mưa ướt hết mà
lúc nào cũng cận kề với cái chết.
Hồi còn ở nhà tôi đã từng đọc cuốn “Dấu chân người lính”, cái khổ cực,
cái ác liệt của các anh, giờ tôi đã hiểu. Cũng có thể, nhờ cuốn tiểu thuyết này
mà tôi bước chân vào đời lính nhẹ nhàng như trong tiểu thuyết vậy. Tất cả
mọi cái như đã sắp sẵn cho tôi, cũng những cánh rừng già đại ngàn, cũng
những cây cổ thụ cao tít tắp, dây leo chằng chịt. Đi dưới rừng già nhiều lúc
tôi đã quên đi thực tại vì rừng đã cho tôi cảm giác bình yên với những giây
phút thật hiếm hoi.
Sự khốc liệt là dai dẳng, liên tục và không có “điều nghiên”, không có
chuẩn bị cho bất cứ trận đánh nào. Vì ở giữa lằn ranh giới biên giới, bên này
là ta, bên kia là địch suốt mấy ngày không ngớt tiếng súng nên quân ta bị
thương và hy sinh khá nhiều. Theo lệnh của cấp trên thì chúng tôi đưa
thương binh ngay về tuyến sau, còn tử sĩ thì chúng tôi phải tập trung lại,
khâm liệm đàng hoàng.
Nói là đàng hoàng, nhưng cũng chỉ quấn vải trắng cho các anh, rồi cho
vào nilon. Mấy chục ca hy sinh chưa đưa về tuyến sau được. Đêm phải thay
nhau gác cho các anh, sợ thú rừng đến tha mất xác. Giữa đêm rừng già,
chúng tôi mắc võng nằm ngang trên xác các anh trông chừng.
Hồi đầu, dù có mệt đến mấy, tôi cũng không thể nào chợp mắt được vì
chứng kiến các anh hy sinh có mấy ai lành lặn đâu. Từ những vết thương cứ
phát ra tiếng phì phì của ruột gan, tiếng xì xì như những tiếng thở dài...
Chúng tôi như nghe được cái chết cuối cùng của từng tế bào trong cơ thể con
người. Vậy mà cũng không có nổi một nén nhang để thắp cho các anh.
Tôi thật may mắn là được làm tiểu đội trưởng của một tiểu đội toàn
người dũng cảm, đầy kinh nghiệm và cũng không kém phần nghịch ngợm
cho nên cứ mỗi lần đi phối thuộc với các Tiểu đoàn là tiểu đội tôi lại lãnh
trách nhiệm lên đường.
Lần này, tiểu đội tôi đi phối thuộc với Tiểu đoàn 3, hành quân tiền nhập
suốt cả đêm. Tất cả phải “ngậm tăm” không được nói chuyện, xuyên rừng
dưới ánh trăng lúc mờ, lúc tỏ. Tôi và Vòng đi cạnh nhau, thỉnh thoảng nhắc
anh em bám sát kẻo lạc. Đi sau Vòng là tay trung đội trưởng của Đại đội 5,
lúc nào cũng thấy anh ta làu bàu vì thế Vòng ta có vẻ bực lắm.
Đi được một lúc, qua một bãi trống dưới ánh trăng mờ mờ, tôi và Vòng
thấy có bãi phân của con thú rừng nào đó to tròn, thấp thoáng giữa tối và
sáng. Vòng ra hiệu cho tôi rồi lấy khẩu AK cọ vào cái xẻng nghe xoảng một
tiếng nhỏ. Hắn ngoảnh lại phía sau tay trung đội trưởng bảo khẽ:
- Tôi rơi cái xoong, ông nhặt hộ tôi cái. Tay Trung đội trưởng tưởng thật
nên chẳng để ý, cứ nhằm chỗ đen đen, tròn tròn là cúi xuống nhặt. Ngờ đâu,
anh ta bốc ngay phải bãi phân trâu. Tôi và Vòng ôm bụng mà cười, mà nào
dám cười to? Trong khi chúng tôi ôm bụng cười thì tay trung đội trưởng vẩy
tay lung tung cho phân trâu rơi ra mà mãi không hết. Anh ta nhảy cẫng lên,
thở hổn hà hổn hển vì tức quá mà không phát tiết ra được.
Vòng thấy thế, lủi ngay ra phía sau. Thật ra chúng tôi biết, mới xuất phát
được một đoạn chưa có gì là nguy hiểm lắm nên vẫn có thể vui đùa được. Đi
được một đoạn dài nữa, Vòng lại lẩn lên đi đằng trước, đến chỗ từ bìa rừng
đi vào, tranh tối tranh sáng giữa ánh trăng và bóng cây, hắn đang đi tự nhiên
khựng lại, cúi người xuống và nói nhỏ với người đằng sau:
- Có hố đằng trước.
Thế rồi hắn lấy đà nhảy ào qua. Theo quán tính, tất cả những người đi
sau cứ theo hắn mà nhảy. Oái oăm thay, tay Trung đội trưởng kia lại đi cuối.
Anh ta nhảy thế nào mà lại rơi phịch ngay xuống chỗ tối mới biết là bị lừa.
Anh ta đau mà vẫn phải bật cười hinh hích vì biết ngay trò này chỉ có thằng
Vòng bày ra. Anh cũng không còn cáu nữa, kể ra không có mấy trò này làm
anh em vui hơn thì cuộc hành quân chắc mệt mỏi lắm.
Còn anh Chiến “sứt” lại khiến tôi nhớ về một lần anh đã “cứu” tôi khỏi
bị thằng Xuân đuổi đánh. Chẳng là, cứ sau mỗi trận đánh, ta lại có đợt bổ
xung quân. Quân từ các tỉnh vào nhiều lắm, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Bắc, thôi thì đủ mọi miền tha hồ mà nhận đồng hương, cứ ồn ào cả
một góc rừng.
- Ai đồng hương Hải Hưng đây?
- Ai Thanh Hóa nào! - Thái Bình đâu?
Tôi nghe tiếng thằng Xuân, tiểu đội trưởng tiểu đội 2 tìm đồng hương:
- Đựa mô quê ở Nghệ An không hề? Kim Liên quê Bạc đây!
Vì biết đông người nhốn nháo thế này nó không thể nhìn thấy tôi nên tôi
bắt giọng trêu luôn:
- Tau! Tau ợ Nghệ An nờ. Rựa mi ở Kim Liên quê Bạc ở chộ mô hề?
Thằng Xuân mừng quá liến thoắng:
- Tau, tau ở ngay đầu xạ nhà Bạc. Rựa mi ở mô?
- Rứa mi còn ngái lắm! Tau ợ.. ợ.. ợ... - Tôi ngắc ngứ.
- Ợ mô? Xuân hỏi dồn.
- Tau ợ... ngay đầu chuồng hôi* nhà Bạ...c! Gần hơn nhà mi nhiều!
Không ai có thể nhịn cười thêm được nữa, bật cười lên ha hả Tiếng cười của
chúng tôi vang cả một góc rừng Lúc này Xuân mới biết là tôi trêu nó, nó
chạy đuổi theo tôi, hét lên:
- Cại đồ đồng hương mật gộc!
Vì tôi quê ở Nghệ An, nhưng sinh ra tại Hà Nội nên nó không chịu nhận
tôi là đồng hương. Thằng Xuân đuổi tôi chạy vòng vòng mãi mà không chịu
tha cho tôi. Thấy thế, anh Chiến sứt “cứu nguy”:
- Chú để anh điều trị thằng mất “gộc” này.
Nói rồi anh chắn ngang tôi nháy mắt, quát:
- Tuấn tròn, đằng sau quay.
Anh được gọi là Chiến “sứt” bởi một lần anh với thằng Soạn khiêng
thương binh về trạm quân y, nhưng chẳng hiểu thằng Soạn đi trước mắt mũi
thế nào mà lại vấp ngã làm anh cũng ngã theo. Qui tắc của lính cứu thương
là bất cứ lý do gì cũng không để thương binh chạm đất do đó bị ngã nhưng
theo phản xạ hai tay anh Chiến vẫn phải nâng cao đầu tăng và lẽ đương
nhiên mặt anh phải chạm đất. Mặt mũi trầy xước bê bết máu mà chẳng dám
kêu, còn chiếc răng cửa thì bị sứt mất một miếng. Từ đó ai cũng gọi anh là
Chiến sứt.
Anh là người nhiều tuổi nhất đại đội, sinh năm 1951 mà mãi đến năm
1976 anh mới đi bộ đội. Anh kể với tôi hồi học cấp 3 ở Bắc Giang anh là học
sinh giỏi có tiếng, năm 1968 anh trúng tuyển đại học được 26 điểm nhưng
chỉ vì lý lịch bố anh theo cách mạng lại yêu một ca nương là mẹ anh mà anh
không được nhập học. Hồi đó, bố anh theo cách mạng đang ở vùng tự do
bỗng đâu trở về Bắc Giang là vùng địch tạm chiếm lấy mẹ anh rồi ở lại luôn.
Không được học Đại học phải chuyển sang học trung cấp, anh chán lắm,
xung phong đi bộ đội cũng không được đi mãi cho đến lúc lấy vợ có con gái
hai tuổi người ta mới gọi anh nhập ngũ...
Tiểu đội tôi, mỗi người một vẻ nhưng cứ sống với nhau thật hồn nhiên
như vậy.
CHƯƠNG III
Mấy tháng nay, không ngày nào ngớt tiếng súng. Đã có hơn chục thằng
vào cùng đợt với tôi hy sinh rồi. Mới hôm nào Noel mà bây giờ đã đến Tết.
Nhanh quá. Căn cứ vào tình hình chiến đấu, cả đơn vị chúng tôi phải ăn Tết
sớm. Mỗi người được một cái bánh tét, hai bao thuốc lá Lao động, mấy gói
kẹo, coi như cũng hòm hòm cho cái Tết chiến trường. Cả Trung đoàn chốt
giữ dọc biên giới dài khoảng 15 km trong cánh rừng già Tây Ninh, dọc theo
sông Vàm Cỏ Tây.
Rừng ở đây khác với rừng ngoài Bắc nhiều, không ẩm thấp, cheo leo mà
bằng phẳng đẹp tuyệt. Những lúc ngớt tiếng súng hoặc đi tải đạn về, tôi lại
lang thang trong rừng, ngắm những cây to mà cả mấy người ôm không xuể.
Cây cối, dây leo ở đây chằng chịt, rậm rạp mà lại khô ráo vì dưới chân toàn
cát. Có thể nằm lăn ra ngay dưới cát mà nghe chim kêu, vượn hú mỗi khi trời
chiều hoặc trong lúc tiếng súng tạm thời im lặng - sự im lặng mang dáng
hình chết chóc ập tới lúc nào không hay.
Vào những đêm trăng có loài đom đóm to như ngón tay út cứ sáng xanh
bay nhanh như sao đổi ngôi chứ không lập lòe như đóm đóm ngoài Bắc và
những con mối thì to khủng khiếp. Đêm ngủ, nếu không treo ba-lô cẩn thận
thì sáng hôm sau mối ăn hết sạch. Nó ăn nghe cứ rào rào như một đoàn quân
ra trận vậy. Còn có những con bò cạp to đùng, thằng Soạn đã từng bị nó đốt
cho, kêu ầm ĩ vì buốt rồi sốt mất mấy ngày may mà có thuốc tiêm mới đỡ.
Chúng tôi chẳng có lấy một ngày nghỉ ngơi vì ngày nào cũng có từ một
đến ba ca thương binh, tử sĩ. Những lúc ấy tôi dẫn mọi người đi, thường chỉ
cần 4 đến 6 người là đủ khiêng. Còn tiểu đội phó Soạn ở nhà, nếu có việc gì
thì đi tiếp.
Thời điểm này, Tây Ninh có những trận mưa như trút nước, dai dẳng
lắm. Nhiều khi đưa thương binh về, cả người khiêng lẫn thương binh đều ướt
như chuột lột, mệt đứt cả hơi mà không dám nghỉ. Chẳng may có vấp ngã thì
cũng phải cố ngóc cái đầu lên để cho cáng khỏi chạm đất vì sợ thương binh
bị đau thêm. Cực quá, thằng Vòng thốt lên:
- Thà khiêng tử sĩ còn sướng hơn! Có ngã các ông ấy cũng chẳng kêu
đau gì cả!
Nghe hắn buột miệng nói thế, tôi bực mình “hừ” một tiếng nhưng rồi
nghĩ lại thương nó và thương cho cả cái thân tôi nữa.
Tôi nhớ hôm trước tôi và thằng Vòng khiêng một cậu thương binh bị
thương vào chân. Hai thằng chúng tôi đã cố gắng hết sức mà thi thoảng vẫn
bị chạm gốc cây. Mỗi lần như thế, cậu thương binh lại ngóc đầu lên cằn
nhằn: “Khiêng thương binh mà khiêng thế à?”. Biết là cậu ấy đau đớn nên
chúng tôi không nói gì cả. Giá như chẳng có chiến tranh có phải hay biết
mấy.
Nhưng càng mưa, ta và địch càng đánh nhau quyết liệt hơn. Biết làm thế
nào?
* * *
Cuối tháng ba.
Tôi vừa đi tải thương về thì Trung đoàn bộ gọi tôi lên. Không biết có
chuyện gì? - cả Tiểu đội, Trung đội đều đoán già đoán non: “Chắc Tuấn tròn
được cử đi học hay là chuyển đơn vị khác đây mà”.
Ai cũng đoán như thế vì từ ngày vào chiến đấu đến bây giờ, tiếng tăm
của Tuấn tròn tôi nổi như cồn đến nỗi Trung đoàn bộ ai cũng biết. Tôi hồi
hộp lên Trung đoàn bộ, Ban quân lực đưa cho tôi một giấy triệu tập, trong
giấy viết: “Ra ngày Sư đoàn bộ có việc gấp!”. Tôi giật mình, đâm ra lo lắng.
Tôi cố gặng hỏi nhưng cũng không ai biết có chuyện gì cả. Chỉ biết Sư đoàn
gọi điện vào báo đích danh tôi phải ra ngay. Sư đoàn đóng ở Lò Gò cách
Trung đoàn khoảng 10km.
Cầm tờ lệnh trên tay, khoác khẩu AK và mấy băng đạn tôi đi ngay buổi
trưa. Thôi kệ, cứ ra rồi sẽ biết!
Khi tôi tìm đến được Sư đoàn bộ thì trời đã về chiều. Các anh trên này
chỉ cho tôi xuống nhà khách, bảo tôi cứ về đó nghỉ ngơi nên tôi xách balô đi
luôn vì ở trên này vừa sốt ruột lại cũng chẳng có ai mà nói chuyện. Gọi là
nhà khách chứ thực ra đó là căn hầm dã chiến, rộng chừng năm mét vuông là
cùng. Tôi dè dặt chui xuống hầm, quan sát xung quanh. Tôi cố làm quen với
bóng tối để nhìn rõ mọi vật trong hầm và sửng sốt thốt lên:
- Mẹ! - Tôi không thể ngờ được, người đang đứng trước mặt tôi đây lại là
Mẹ. Tôi ào đến, ôm lấy mẹ thật lâu, mãi tôi mãi lắp bắp được mấy câu - Sao
mẹ lại vào tận đây? Nguy hiểm quá!
Đạn pháo nổ ầm ầm vọng lại, còn mẹ thì cứ lặng yên xoa đầu tôi như lúc
tôi mới lên ba. Một lát, mẹ đẩy nhẹ tôi ra ngắm nghía, mẹ bảo:
- Trông con gầy nhưng mà có vẻ cứng cỏi hơn nhiều.
Được mẹ khen nhưng tôi chẳng biết nói gì, chỉ biết cười ngượng nghịu.
Từ vui mừng tôi chuyển sang bối rối. Đang không biết đón tiếp mẹ thế nào ở
nơi trận mạc thế này thì một anh bên Quân lực xuống bảo:
- Cậu đưa mẹ xuống Trung đoàn ngay đi!
Nghe anh nói vậy, tôi như cậu ngốc vội vã kéo tay mẹ cảm ơn và tạm
biệt Sư đoàn đi ngay. Gặp được mẹ là mừng quá rồi. Trong lòng tôi thấy vô
cùng tự hào về mẹ đã dám đi một mình vào chỗ súng đạn để đi bên cạnh tôi
như lúc này. Tôi hầu như quên hết thực tại, cứ dắt tay mẹ đi tự nhiên như
không hề có chiến trận xảy ra.
- Mẹ, mẹ vào đây bằng gì ạ?
- Mẹ đi công tác vào thành phố Hồ Chí Minh, nhân tiện xin xe cơ quan
vào đây tìm thăm con.
- Thế anh lái xe đâu rồi mẹ?
- Vào đến gần Sư đoàn, nghe tiếng súng nổ dữ quá, thấy anh ta có vẻ sợ
nên mẹ bảo anh ấy quay về. Mẹ tự tìm được mà.
- Khỉ thật! - Bỗng nhiên tôi bực mình - Sao anh lái xe nỡ để mẹ đi một
mình vào chỗ súng đạn thế này.
- Thôi mà con, anh ấy đưa mẹ vào được đến đây là tốt lắm rồi - Mẹ dỗ
dành tôi.
Mải nói chuyện mà hai mẹ con tôi không hề biết bìa rừng phía trước mặt
cách chúng tôi không còn xa nữa. Trời sẩm tối và cảnh hoàng hôn của rừng
già mới náo nhiệt làm sao? Tiếng chim kêu về tổ, tiếng vượn hú gọi nhau.
Thỉnh thoảng tiếng súng lại rộ lên làm cho những chú chim hoảng sợ bay tán
loạn. Càng về gần Trung đoàn, tiếng súng lại càng dữ dội hơn khiến tôi lại
càng lo bọn thám báo mà lởn vởn quanh đây thì mẹ làm sao mà an toàn
được? Trong lòng thì nghĩ vậy nhưng tôi nào dám tỏ ra lo lắng. Tôi nói với
mẹ:
- Con sẽ đi lên phía trước, còn mẹ đi sau con một đoạn, nếu có gì mẹ cứ
nằm sát xuống đất nhé!
Quả thật, tôi vô cùng lo lắng, lúc chiến đấu với quân thù tôi cũng không
lo như bây giờ. Tôi lo cho mình thì ít mà lo cho mẹ thì nhiều. Mẹ có bao giờ
đi giữa nguy hiểm thế này đâu? Không biết mẹ có lo lắng như tôi không, tôi
không dám hỏi mẹ, chỉ thấy mẹ mỉm cười an ủi tôi. Có lẽ mẹ tin tưởng con
mẹ lắm. Tôi nghĩ vậy và hơi yên tâm.
Thật may vừa tối thì hai mẹ con tôi kịp tới Trung đoàn bộ. Tôi thở phào
nhẹ nhõm.
Biết tin mẹ tôi vào thăm nhưng vì đang chiến đấu nên cả Đại đội tôi hân
hoan chào đón mẹ bằng cách cứ chốc chốc lại mấy anh chạy đến nắm tay
mẹ, hỏi han vài câu rồi lại ngay lập tức quay trở lại vị trí. Tiếng súng càng
lúc càng dữ dội hơn, khẩu DKZ cứ dzoành! dzoành... cách hầm mẹ con tôi
vài chục mét, liên tục, liên tục... Nhưng có hề gì đâu? Bởi cả đại đội tôi ai
cũng phấn khởi vì có Mẹ. Bỗng dưng mẹ như là mẹ của cả đại đội. Mọi
người xúm vào mắng tôi:
- Sao lại dám đưa Mẹ vào chốn nước sôi, lửa bỏng thế này? Cậu phải lo
cho mẹ nghỉ chỗ nào an toàn chứ.
- Nhưng tôi đã được nghỉ đâu? - Tôi cãi.
Thằng Vòng đỏ mặt lên nói:
- Đáng lẽ Trung đoàn phải bố trí cho hai mẹ con ra thị trấn Tân Biên mới
phải!
Mẹ nghe mọi người bàn cãi thế, cười:
- Các con đừng lo, mẹ muốn tận mắt xem các con chiến đấu như thế nào
mà.
Cuối cùng tôi cũng được anh em ưu tiên cho ở lại với mẹ. Thật là sung
sướng! Ngoài kia súng vẫn nổ ầm ầm! Mặc! Nhưng cho dù muốn nói chuyện
với mẹ thật nhiều tôi vẫn không thể cưỡng lại cơn thèm ngủ. Vì hàng tuần
nay có được ngủ đâu, cứ gà gật được lúc nào hay lúc ấy. Tôi đoán mẹ tôi
không tài nào ngủ được vì đạn pháo xung quanh cứ nổ ầm ầm. Hình như mẹ
đã luôn xoa đầu tôi lúc tôi ngủ, còn tôi thì cứ ngủ ngon lành như hồi còn bé.
Lúc mẹ con tôi xuống Trung đoàn định cảm ơn các thủ trưởng đã ...
Lời tác giả
CẢM NHẬN
CHƯƠNG I
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG VIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
PHỤ LỤC
Lời tác giả
Thưa bạn đọc!
Chiến tranh đã lùi xa chúng ta đã khá lâu. Quãng thời 30 năm kể từ khi
kết thúc chiến tranh biên giới đến nay đủ để ký ức vui buồn về nó đang dần
trôi xa... Nhưng dù sao đi nữa, những người lính cầm súng những năm chống
Mỹ cứu nước và nhất là những người lính chiến đấu trong những năm 1976
-1979 vẫn còn sống quanh tôi tới ngày nay, chính họ đã làm nên bản tình ca
bất diệt cho lòng quả cảm hy sinh vì đất nước. Nhờ có những người lính năm
xưa, tôi đã thấy giá trị của sự yên bình mà tôi đang được sống. Cũng vì lẽ đó
tôi muốn viết về họ với một niềm tự hào từ sâu thẳm trái tim mình.
Khi tôi thực hiện viết cuốn sách thì một số nhân vật của tôi đã vào tuổi
xưa nay hiếm, số khác cũng không còn khoẻ mạnh. Nếu tôi chậm trễ chút
nữa thì rất có thể, rất nhiều tư liệu quí báu về chiến tranh sẽ không còn đến
tay tôi cùng độc giả hôm nay và mai sau. Vì tôi biết, hiện nay còn có quá
nhiều thông tin về chiến tranh đang vô tình bị chìm vào thời gian.
Với tinh thần nâng niu những gì thuộc về ký ức chiến tranh, tôi cố gắng
thu thập thông tin từ những người lính đã từng tham gia chiến tranh biên giới
Tây Nam, những người chỉ huy và cả những người mẹ, người vợ của họ để
làm tư liệu viết nên cuốn sách “Chuyện của lính Tây Nam” này, với mong
muốn đem đến cho độc giả cảm xúc chân thật nhất về chiến tranh biên giới
Tây Nam - điều mà bấy lâu nay ít ai biết tới.
Nhân vật chính trong cuốn sách tôi viết là một người lính vận tải có
nhiệm vụ chính là tải thương, tải đạn. Cũng bởi anh lính không phải trực tiếp
tham gia chiến đấu nên anh có nhiều cơ hội quan sát khá tinh tế về những gì
xảy ra xung quanh anh chăng?
Trong câu chuyện của tôi, với nhận thức của lứa tuổi 20 trong thời điểm
bấy giờ, người lính trẻ cư xử và suy nghĩ rất tự nhiên như chính cuộc sống
chiến trận đã tạo nên. Anh ta đã có lúc hèn nhát, có lúc rất kiên cường…
Tuy nhiên, vì khả năng có hạn nên cuốn sách tôi viết có thể chưa chuyển
tải hết tinh thần khốc liệt, tầm vóc của cuộc chiến... hay một vài chỗ chưa
vừa lòng bạn đọc. Rất mong bạn đọc lượng thứ và góp ý.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2010
Thủy Hướng Dương
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
CẢM NHẬN
Có lẽ Thủy Hướng Dương là một người phụ nữ đã dành một tình yêu với
lính rất đặc biệt tới mức hòa nhập được cảm xúc thực của người lính trong
chiến tranh.
Chuyện viết rất thực, nêu bật được tình hình cam go và khốc liệt của
chiến trường Campuchia lúc đó. Điều mà chỉ có người lính tham chiến thật
mới hiểu và viết lên những sự thật mà sách báo không dám nói như thế.
Cảm ơn Thủy Hướng Dương đã chịu khó nghe kể chuyện lính, hỏi kỹ
tình tiết và viết nên được câu chuyện rất thật, rất bi hùng này của những
người lính tình nguyện Campuchia một thuở.
Vũ Chiến
Lính tình nguyện Campuchia.
Có cảm giác chị Thủy Hướng Dương viết truyện này cứ như đã trực tiếp
tham gia trong chiến tranh, từ cách thể hiện diễn biến tâm lý, tình cảm của
nhân vật đến diễn biến của các trận chiến, thật khốc liệt với những mất mát
đau thương. Có những đoạn khiến người đọc như đang ở trong hoàn cảnh đó,
hồi hộp đến nghẹt thở rồi phải trào nước mắt vì xúc động. Chiến tranh được
mô tả trần trụi khốc liệt đầy sinh động về người lính qua ngòi bút của cây
viết nữ thật đáng khâm phục.
Cung Diễm
Sinh sau năm 1970, Thủy Hướng Dương chỉ nghe kể chuyện lúc rảnh rỗi
thôi mà viêt được những mấu chuyện lính rất thật, như người trong cuộc,
khiến tôi kinh ngạc và thán phục cô ấy. Những mẩu chuyện viết rất chân
thật, mạch lạc và dễ cảm nhận. Thủy Hướng Dương đã mô tả cuộc sống đời
lính rất thật, muôn hình muôn vẻ, “rất lính”.
Trinh sát
Thành viên Quansuvn.net
Thủy Hướng Dương có lối viết dung dị - dung dị như đời lính. Có lẽ vì
bản thân hiện thực khốc liệt cả máu, nước mắt, nụ cười, vừa mang đậm chất
hùng ca vừa mang chất bi kịch đã tự thân toát lên sức hấp dẫn của nó mà
không cần pha thêm một chút mắm muối, hay màu mè.
Qua câu chuyện của Tuấn “tròn”- một anh lính vận tải (rồi “có chức”)
vui tính, thông minh, mê văn chương có khả năng quan sát tốt, một góc cuộc
chiến tranh biên giới Tây Nam đã hiển hiện sống động. Tính khốc liệt của
cuộc chiến, tình đồng đội, những chi tiết thú vị của đời lính, sự hài hước vui
đùa, những trò nghịch ngợm để quên đi lằn ranh mong manh giữa sống và
chết...
Đặc biệt nhiều trang viết đậm đặc những chi tiết đắt giá, xúc động của
người lính, khi trung đội của Tuấn nỗ lực đánh đổi cả mạng sống của mình
để đưa tử sĩ về chôn, khi Ấn sa chân vào hố chôn người của bọn Pôn Pốt hay
khi 6 người bạn của Tuấn cùng hy sinh một thời điểm khi xe bò của họ trúng
mìn...
... Thủy Hướng Dương đã lựa chọn một đề tài “độc”. Chủ đề quân đội
không “độc”, nhưng mảng đề tài chuyên biệt trong chủ đề lớn quân đội mà
chị chọn là “độc”.
Nhà báo Việt Văn
(Báo Lao động)
CHƯƠNG I
Đầu tháng 12 năm 1977, đơn vị tôi đang đóng quân ở Bỉm Sơn - Thanh
Hóa thì được lệnh vào chiến trường Tây Nam để chiến đấu. Cả đơn vị xôn
xao, bàn tán suốt cả ngày. Lại chiến tranh ư? Vừa giải phóng Miền Nam
xong, mới thống nhất đất nước, sao còn đánh nhau nữa? Mà đánh nhau với ai
kia chứ? Cứ tưởng rằng đợt lính nhập ngũ năm 1976 chúng tôi chỉ còn là
lính nghĩa vụ, đi để xây dựng một quân đội thật chính quy và hiện đại thôi.
Ai ngờ...
Nhưng cũng đúng thôi, chúng tôi được biên chế vào quân đoàn 1, F320,
E48 - quân chủ lực cơ mà. Hơn nữa quân đoàn này có truyền thống trăm trận
trăm thắng, nổi tiếng từ hồi chống Mỹ.
Cho đến lúc này thì đơn vị tôi, nhất là C11 toàn lính Hà Nội. Hầu hết
chúng tôi đều ở cùng tiểu khu Quang Trung, quận Đống Đa nên một số đã
quen biết nhau vì đều cùng học với nhau ở trường cấp 3 Đống Đa cả.
Từ bây giờ, chúng tôi mới bắt đầu theo dõi thời sự qua Đài tiếng nói Việt
nam, biết rằng ở Xa Mát, Lò Gò, Tây Ninh vừa có một vụ thảm sát cả cô lẫn
trò trường tiểu học Xa Mát cùng một số dân thường ở đó do quân Khmer Đỏ
tràn sang gây hấn.
Cả đơn vị tôi sục sôi. Ai cũng muốn mau chóng được vào ngay chiến
trường. Tôi cảm thấy trong đại đội tôi không có ai tỏ ra lo sợ cả, mặc dù
chưa ai biết đánh nhau là gì và sẽ như thế nào. Trong những ngày chờ đợi,
chúng tôi ai cũng tranh thủ viết thư về nhà, cho gia đình, bố mẹ, người yêu...
là mình chuẩn bị “được” vào Tây Ninh chiến đấu.
Sốt ruột chờ đợi, rồi cũng có lệnh lên đường. Sáng ngày 15-12- 1977, tất
cả chúng tôi rời Bỉm Sơn - Thanh Hóa, nơi đã gắn bó chúng tôi gần một năm
trời với bao kỷ niệm vui, buồn.
Cả Trung đoàn 48 chúng tôi lên đường! Không phải, cả sư đoàn thì đúng
hơn. Quân, tư trang thật gọn nhẹ chỉ với một ba lô con cóc, chúng tôi ra đi
chiến đấu, rời miền Bắc thân yêu, nhẹ nhàng như là một buổi đi tập dã ngoại
và hiện đại hơn lớp cha anh thời chống Mỹ ở chỗ chúng tôi được hành quân
bằng ô tô thay vì phải đi bộ hàng tháng trời mới vào tới chiến trường. Từng
đoàn xe ô tô, chở cả trung đoàn vào biên giới Tây Ninh, nơi chiến trường
mới đang chờ đón.
Trên suốt dọc đường hành quân, tất cả anh em chúng tôi lại càng gắn bó,
thân thiết với nhau hơn bao giờ hết, chốc chốc những lời ca của bài hát “Đại
đoàn đồng bằng” và “Tôi xa Hà nội năm tôi mười tám khi vừa biết yêu” lại
vang lên trong mỗi chiếc xe.
Mãi cho đến tối 23-12-1977 thì chúng tôi vào tới Xa Mát, Lò Gò (Tây
Ninh) và đổ quân xuống một cánh rừng giáp biên giới Campuchia. Phần vì
mệt do đi đường xa, phần vì lần đầu tiên trong đời bộ đội nằm đất, ngủ rừng
nên lúc đầu chúng tôi túm tụm lại rì rầm trò chuyện nhưng rồi chỉ ít phút sau
đã thiếp đi lúc nào không hay, mặc cho phía sau cánh rừng tiếng súng nổ đì
đùng...
* * *
Sáng ngày hôm sau, tất cả trung đoàn chúng tôi được biên chế lại. Tôi cứ
tưởng thế nào tôi cũng được ở cùng với anh em trong đại đội C11 thân yêu
của tôi, nhưng hóa ra không phải. Tất cả chúng tôi bị chia nhỏ để bổ sung
vào các đơn vị khác nhau. Chủ yếu là về F320 và F10 quân đoàn 3. Một số
vẫn ở lại E48, một số về E64, gần một nửa nữa về sư 10 và một ít về E52
trong đó có tôi.
Lúc các đơn vị đến nhận quân, mọi người khẩn trương lần lượt về đơn vị
mới. Tôi ôm lấy Vọng con, Thái, Long Khùa, Vinh kều... rồi gạt nước mắt
mà chia tay. Một thoáng suy nghĩ đến sự sống chết lướt qua trong đầu tôi rất
nhanh: “Không biết có còn gặp lại chúng mày nữa hay không”.
Điểm lại tình hình, chỉ còn một số ít anh em, tôi, Dũng con, An, Minh
sứt và mấy người nữa... An, Minh sứt, Thỏa chúng nó được ở với nhau về
đại đội công binh, sướng thế! Dũng con và mấy thằng nữa về bộ binh. Còn
lại mỗi mình tôi về đơn vị mới thành lập ngày hôm đó là C25 vận tải.
Tôi phát khóc vì toàn bộ số anh em thân thiết ở đại đội đều được ở với
nhau chỉ mỗi tôi phải đi đơn vị khác. Mặc dù tôi đã cố kìm, nhưng nước mắt
vẫn trào ra. Trong tôi tràn ngập cảm giác lạc lõng vì phải ở một đơn vị toàn
người xa lạ. Ở đơn vị cũ, đi bất cứ chỗ nào cũng được anh em gọi: “Ê, Tuấn
tròn, Tuấn tròn... lại đây với bọn tao!” đầy thương mến mà nay phải ở một
mình một đơn vị thử hỏi thằng tôi không khóc làm sao được?
* * *
Tôi vác ba lô về đơn vị mới và được đề bạt làm tiểu đội trưởng tiểu đội 1.
Thật quá ngạc nhiên! Tôi không hiểu sao mình lại được làm tiểu đội trưởng
vì tôi rất nghịch và ngang bướng.
- Kệ, cứ để xem sao - Tôi nghĩ vậy. Tiểu đội tôi có mười hai chiến sĩ và
tôi bất ngờ phát hiện ra tiểu đội mình toàn lính cựu: ba ông lính 74, tám ông
lính 75, có mỗi mình tôi là lính 76 mà lại bé loắt choắt. Tôi đâm lo thật sự.
Không biết mình sẽ chỉ huy mấy ông anh thế nào bây giờ đây. Lúc tập trung
tiểu đội, tôi hơi cuống và giới thiệu liền một mạch:
- Tôi - Tuấn tròn, người Hà Nội, tiểu đội trưởng. Còn các ông anh? Tên
gì, ở đâu?
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, rồi nhìn tôi hơi có vẻ ngỡ ngàng. Có một
anh bỗng đứng dậy hô rất to:
- Tôi, binh nhất Trần Vòng, lính 75!
Rồi cứ thế... Sơn 75, Ần 75, Bình 75, Sáng 75, Soạn 75, Bình voi 75,
Cường 75, Long Fulro 74, Khang 74,
Và cuối cùng:
- Hùng 74. Báo cáo: Hết!
Điểm danh với nhau xong mọi người phá lên cười. Cười vì cái cách của
tôi cũng ngang tàng không kém gì các đàn anh. Tôi biết, vậy là ổn. Tôi tranh
thủ phổ biến công việc vận tải của chúng tôi phải làm là mang súng, đạn
dược xuống tận các chốt chiến đấu, đưa thương binh tử sĩ về hậu phẫu trung
đoàn.
Tất cả sẵn sàng chuẩn bị cho chiến đấu! Đêm Noel 24 tháng 12.1977,
chúng tôi hành quân từ Sa Mát vào sát biên giới, đóng quân dọc con suối Đà
Ha. Con suối này một phần nằm trên đất Việt Nam, một phần nằm trên đất
Campuchia, nếu không có chiến tranh thì chắc con suối này sẽ là con suối rất
thơ mộng như cái tên của nó. Nhìn con suối nước trong veo, róc rách chảy
hiền hòa và những cây leo từ trên cây cổ thụ thõng xuống dòng nước thế này
sẽ không ai có thể tưởng tượng được chính con suối này đã chứng kiến bao
nhiêu sự chết chóc của cả hai bên đối địch. Cũng chính con suối này, mỗi lúc
bọn tôi xuống tiểu đoàn về đều qua đây nhảy ào xuống tắm mát vô cùng. Có
lần chúng tôi còn bắt gặp một con trăn, mình của nó bằng bắp chân người,
bọn tôi giơ súng lên bắn nó mấy phát chẳng biết nó có bị trúng đạn không
nhưng thấy nó chạy rẽ nước mất hút, làm chúng tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ.
Tiếng súng ngày càng gần và càng dữ dội hơn. Chúng tôi ở bên này suối
còn địch ở bên kia. Đơn vị chúng tôi có nhiệm vụ đánh bật địch ra khỏi bản
Không tên bên này bờ suối, hất chúng ra khỏi biên giới của ta. Tiểu đội tôi
phụ trách tuyến tiểu đoàn 4. Chỉ có 12 người vừa gùi đạn xuống cho cả một
tiểu đoàn vừa đưa thương binh về tuyến sau.
Trận chiến bắt đầu từ nửa đêm cho tới trưa ngày hôm sau. Lính ta bị
thương và hy sinh khá nhiều. Toàn tiểu đội tôi cứ như con thoi chạy lên,
chạy xuống. Riêng tôi đã phải cõng gần chục ca thương binh, bộ quân phục
đang mặc trên người ướt sũng máu của đồng đội. Trong đầu tôi chỉ còn nghĩ
được mỗi một điều: “Phải cõng các anh chạy thật nhanh, không thì các anh
chết mất!” - và cứ thế, tôi quên đi cái cảm giác sợ hãi đến lạ lùng trong khi
đạn vẫn cứ chiu chíu quanh tôi...
CHƯƠNG II
Mưa. Mưa thối đất thối cát.
Mùa mưa của miền Tây Nam bộ này ghê thật. Vào đây, tôi mới thấu hiểu
được cái mùa mưa mà trong cuốn tiểu thuyết Mẫn và tôi được nhà văn miêu
tả thật đến mức nào. Nằm giữa rừng già, chỉ có cái võng và cái tăng che đầu,
một cơn gió nhẹ là mưa lại ào vào ướt hết cả. Cũng vì mưa mà cả hai ngày
hôm nay tiếng súng trên chốt đỡ hẳn. Thỉnh thoảng mới có vài tiếng AK nổ
tằng... tằng... tằng... như muốn báo với bọn địch rằng ta vẫn luôn cảnh giác.
- Này ông Vòng ơi! Dân Hải Hưng có cái gì nhỉ? - Tôi hỏi. Suốt từ hôm
vào chiến dịch tới giờ tiểu đội chúng tôi mới có thời gian nằm kề bên nhau
mà chuyện trò như thế này.
Thằng Vòng như được dịp, liền khoe:
- Nhiều lắm. Xã thằng Sơn, thằng Bình “chân Tiệp” có nhãn lồng bổ
ngập dao phay, còn xã thằng Sáng, thằng Ần có táo thiện phiến ăn ngon và
giòn, lại thơm nữa.
- Thế còn xã ông? - Tôi hỏi tiếp.
- Ồi, xã tôi gọi là đất làng vàng. Đất làng vàng là nói thế thôi chứ người
đông đất hiếm, mà là đất phèn chua, chiêm trũng nên chỉ trồng được một vụ
lúa, trồng khoai tây gối vụ. Củ nào to nhất cũng chỉ như hai hạt dái chó. Cực
lắm ông ạ.
- Vậy thì xã ông nghèo nhất à?
- Ừ - Vòng trả lời.
- À, ông Vòng này, sao lại gọi thằng Bình là Bình “chân Tiệp''?
Vòng ta cười ha hả:
- Tại gần nhà nó có xưởng làm chân tay giả của Tiệp, nó nghe người ta
bảo chân tay giả của Tiệp là tốt nhất cho nên ngồi đâu, nói chuyện gì, nó
cũng nói đến chân giả của Tiệp. Ngoài chuyện đó ra nó chẳng biết gì hơn.
Thế nên mọi người mới gọi nó là Bình “chân Tiệp”.
Cả tiểu đội mười mấy con người mà mỗi người một vẻ. Thằng Sáng thì
lúc nào cũng láu ta láu táu, thằng Soạn - tiểu đội phó của tôi thì cả ngày
không nói được nửa câu, vậy mà khi vào trận thì lì không ai bằng. Thằng
Vòng một chữ cắn đôi không biết nhưng tục ngữ và ca dao thì Vòng thuộc
không ai bằng.
Có tiếng gọi cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi:
- Ê, Tuấn tròn, Vòng! Sang tao làm điều thuốc lào.
Thì ra nghe tôi và Vòng nói chuyện với nhau, anh Long Fulro đồng
hương Hà Nội với tôi chắc không ngủ được, gọi với sang.
Tôi liền trêu:
- Sang làm gì? Em biết anh định nói gì rồi! Hì hì, em biết thừa anh lại gọi
sang nghe chuyện Fulro chứ gì.
* * *
Đã mấy tháng ở với nhau cực khổ muôn phần, không thấy anh đả động gì
đến cái sống, cái chết lúc nào cũng kè kè trong gang tấc, mà hễ có dịp ngồi
với nhau là anh lại lôi chuyện hồi ở Tây Nguyên đánh nhau với Fulro. Con
người ta kể cũng lạ, dù hiện tại có sung sướng hay cực khổ tới đâu cũng
không ngại, nhưng kỷ niệm xưa thì khó mà phai nhòa được. Hình như những
kỷ niệm xưa cũ ấy khiến cho con người sống có ý nghĩa hơn, mạnh mẽ hơn.
Cũng như tôi bây giờ, mới ngày nào còn chưa lường hết sự ác liệt của chiến
trường, nay đã trở thành một anh lính dày dạn.
Những trận chiến dai dẳng, triền miên trong mấy tháng qua nay lại tái
hiện qua giây phút nghỉ ngơi này. Rất may mắn, cả tiểu đội tôi chưa có
thương vong nào. Ngày nào chúng tôi cũng làm theo một chu kỳ khép kín.
Ban ngày thì đào hầm, hết đào hầm phẫu thuật thì đến đào hầm sở chỉ huy
rồi lại đào hầm cho thương binh nằm. Hầm chúng tôi đào thường có kích
thước rộng 3m, dài 5m, sâu 1m8, trên lát gỗ để tránh pháo. Tối đến, tải đạn
xuống cho các Tiểu đoàn và lấy thương binh, tử sĩ về. Nói tóm lại, chúng tôi
phải lo đủ đạn dược cho toàn trung đoàn.
Một núi công việc khổng lồ tưởng như ngoài sức chịu đựng của con
người, vậy mà chúng tôi vẫn luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ. Dù sao vẫn còn
sướng hơn anh em bộ binh, cả ngày nằm dưới hầm chữ A, mưa ướt hết mà
lúc nào cũng cận kề với cái chết.
Hồi còn ở nhà tôi đã từng đọc cuốn “Dấu chân người lính”, cái khổ cực,
cái ác liệt của các anh, giờ tôi đã hiểu. Cũng có thể, nhờ cuốn tiểu thuyết này
mà tôi bước chân vào đời lính nhẹ nhàng như trong tiểu thuyết vậy. Tất cả
mọi cái như đã sắp sẵn cho tôi, cũng những cánh rừng già đại ngàn, cũng
những cây cổ thụ cao tít tắp, dây leo chằng chịt. Đi dưới rừng già nhiều lúc
tôi đã quên đi thực tại vì rừng đã cho tôi cảm giác bình yên với những giây
phút thật hiếm hoi.
Sự khốc liệt là dai dẳng, liên tục và không có “điều nghiên”, không có
chuẩn bị cho bất cứ trận đánh nào. Vì ở giữa lằn ranh giới biên giới, bên này
là ta, bên kia là địch suốt mấy ngày không ngớt tiếng súng nên quân ta bị
thương và hy sinh khá nhiều. Theo lệnh của cấp trên thì chúng tôi đưa
thương binh ngay về tuyến sau, còn tử sĩ thì chúng tôi phải tập trung lại,
khâm liệm đàng hoàng.
Nói là đàng hoàng, nhưng cũng chỉ quấn vải trắng cho các anh, rồi cho
vào nilon. Mấy chục ca hy sinh chưa đưa về tuyến sau được. Đêm phải thay
nhau gác cho các anh, sợ thú rừng đến tha mất xác. Giữa đêm rừng già,
chúng tôi mắc võng nằm ngang trên xác các anh trông chừng.
Hồi đầu, dù có mệt đến mấy, tôi cũng không thể nào chợp mắt được vì
chứng kiến các anh hy sinh có mấy ai lành lặn đâu. Từ những vết thương cứ
phát ra tiếng phì phì của ruột gan, tiếng xì xì như những tiếng thở dài...
Chúng tôi như nghe được cái chết cuối cùng của từng tế bào trong cơ thể con
người. Vậy mà cũng không có nổi một nén nhang để thắp cho các anh.
Tôi thật may mắn là được làm tiểu đội trưởng của một tiểu đội toàn
người dũng cảm, đầy kinh nghiệm và cũng không kém phần nghịch ngợm
cho nên cứ mỗi lần đi phối thuộc với các Tiểu đoàn là tiểu đội tôi lại lãnh
trách nhiệm lên đường.
Lần này, tiểu đội tôi đi phối thuộc với Tiểu đoàn 3, hành quân tiền nhập
suốt cả đêm. Tất cả phải “ngậm tăm” không được nói chuyện, xuyên rừng
dưới ánh trăng lúc mờ, lúc tỏ. Tôi và Vòng đi cạnh nhau, thỉnh thoảng nhắc
anh em bám sát kẻo lạc. Đi sau Vòng là tay trung đội trưởng của Đại đội 5,
lúc nào cũng thấy anh ta làu bàu vì thế Vòng ta có vẻ bực lắm.
Đi được một lúc, qua một bãi trống dưới ánh trăng mờ mờ, tôi và Vòng
thấy có bãi phân của con thú rừng nào đó to tròn, thấp thoáng giữa tối và
sáng. Vòng ra hiệu cho tôi rồi lấy khẩu AK cọ vào cái xẻng nghe xoảng một
tiếng nhỏ. Hắn ngoảnh lại phía sau tay trung đội trưởng bảo khẽ:
- Tôi rơi cái xoong, ông nhặt hộ tôi cái. Tay Trung đội trưởng tưởng thật
nên chẳng để ý, cứ nhằm chỗ đen đen, tròn tròn là cúi xuống nhặt. Ngờ đâu,
anh ta bốc ngay phải bãi phân trâu. Tôi và Vòng ôm bụng mà cười, mà nào
dám cười to? Trong khi chúng tôi ôm bụng cười thì tay trung đội trưởng vẩy
tay lung tung cho phân trâu rơi ra mà mãi không hết. Anh ta nhảy cẫng lên,
thở hổn hà hổn hển vì tức quá mà không phát tiết ra được.
Vòng thấy thế, lủi ngay ra phía sau. Thật ra chúng tôi biết, mới xuất phát
được một đoạn chưa có gì là nguy hiểm lắm nên vẫn có thể vui đùa được. Đi
được một đoạn dài nữa, Vòng lại lẩn lên đi đằng trước, đến chỗ từ bìa rừng
đi vào, tranh tối tranh sáng giữa ánh trăng và bóng cây, hắn đang đi tự nhiên
khựng lại, cúi người xuống và nói nhỏ với người đằng sau:
- Có hố đằng trước.
Thế rồi hắn lấy đà nhảy ào qua. Theo quán tính, tất cả những người đi
sau cứ theo hắn mà nhảy. Oái oăm thay, tay Trung đội trưởng kia lại đi cuối.
Anh ta nhảy thế nào mà lại rơi phịch ngay xuống chỗ tối mới biết là bị lừa.
Anh ta đau mà vẫn phải bật cười hinh hích vì biết ngay trò này chỉ có thằng
Vòng bày ra. Anh cũng không còn cáu nữa, kể ra không có mấy trò này làm
anh em vui hơn thì cuộc hành quân chắc mệt mỏi lắm.
Còn anh Chiến “sứt” lại khiến tôi nhớ về một lần anh đã “cứu” tôi khỏi
bị thằng Xuân đuổi đánh. Chẳng là, cứ sau mỗi trận đánh, ta lại có đợt bổ
xung quân. Quân từ các tỉnh vào nhiều lắm, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Bắc, thôi thì đủ mọi miền tha hồ mà nhận đồng hương, cứ ồn ào cả
một góc rừng.
- Ai đồng hương Hải Hưng đây?
- Ai Thanh Hóa nào! - Thái Bình đâu?
Tôi nghe tiếng thằng Xuân, tiểu đội trưởng tiểu đội 2 tìm đồng hương:
- Đựa mô quê ở Nghệ An không hề? Kim Liên quê Bạc đây!
Vì biết đông người nhốn nháo thế này nó không thể nhìn thấy tôi nên tôi
bắt giọng trêu luôn:
- Tau! Tau ợ Nghệ An nờ. Rựa mi ở Kim Liên quê Bạc ở chộ mô hề?
Thằng Xuân mừng quá liến thoắng:
- Tau, tau ở ngay đầu xạ nhà Bạc. Rựa mi ở mô?
- Rứa mi còn ngái lắm! Tau ợ.. ợ.. ợ... - Tôi ngắc ngứ.
- Ợ mô? Xuân hỏi dồn.
- Tau ợ... ngay đầu chuồng hôi* nhà Bạ...c! Gần hơn nhà mi nhiều!
Không ai có thể nhịn cười thêm được nữa, bật cười lên ha hả Tiếng cười của
chúng tôi vang cả một góc rừng Lúc này Xuân mới biết là tôi trêu nó, nó
chạy đuổi theo tôi, hét lên:
- Cại đồ đồng hương mật gộc!
Vì tôi quê ở Nghệ An, nhưng sinh ra tại Hà Nội nên nó không chịu nhận
tôi là đồng hương. Thằng Xuân đuổi tôi chạy vòng vòng mãi mà không chịu
tha cho tôi. Thấy thế, anh Chiến sứt “cứu nguy”:
- Chú để anh điều trị thằng mất “gộc” này.
Nói rồi anh chắn ngang tôi nháy mắt, quát:
- Tuấn tròn, đằng sau quay.
Anh được gọi là Chiến “sứt” bởi một lần anh với thằng Soạn khiêng
thương binh về trạm quân y, nhưng chẳng hiểu thằng Soạn đi trước mắt mũi
thế nào mà lại vấp ngã làm anh cũng ngã theo. Qui tắc của lính cứu thương
là bất cứ lý do gì cũng không để thương binh chạm đất do đó bị ngã nhưng
theo phản xạ hai tay anh Chiến vẫn phải nâng cao đầu tăng và lẽ đương
nhiên mặt anh phải chạm đất. Mặt mũi trầy xước bê bết máu mà chẳng dám
kêu, còn chiếc răng cửa thì bị sứt mất một miếng. Từ đó ai cũng gọi anh là
Chiến sứt.
Anh là người nhiều tuổi nhất đại đội, sinh năm 1951 mà mãi đến năm
1976 anh mới đi bộ đội. Anh kể với tôi hồi học cấp 3 ở Bắc Giang anh là học
sinh giỏi có tiếng, năm 1968 anh trúng tuyển đại học được 26 điểm nhưng
chỉ vì lý lịch bố anh theo cách mạng lại yêu một ca nương là mẹ anh mà anh
không được nhập học. Hồi đó, bố anh theo cách mạng đang ở vùng tự do
bỗng đâu trở về Bắc Giang là vùng địch tạm chiếm lấy mẹ anh rồi ở lại luôn.
Không được học Đại học phải chuyển sang học trung cấp, anh chán lắm,
xung phong đi bộ đội cũng không được đi mãi cho đến lúc lấy vợ có con gái
hai tuổi người ta mới gọi anh nhập ngũ...
Tiểu đội tôi, mỗi người một vẻ nhưng cứ sống với nhau thật hồn nhiên
như vậy.
CHƯƠNG III
Mấy tháng nay, không ngày nào ngớt tiếng súng. Đã có hơn chục thằng
vào cùng đợt với tôi hy sinh rồi. Mới hôm nào Noel mà bây giờ đã đến Tết.
Nhanh quá. Căn cứ vào tình hình chiến đấu, cả đơn vị chúng tôi phải ăn Tết
sớm. Mỗi người được một cái bánh tét, hai bao thuốc lá Lao động, mấy gói
kẹo, coi như cũng hòm hòm cho cái Tết chiến trường. Cả Trung đoàn chốt
giữ dọc biên giới dài khoảng 15 km trong cánh rừng già Tây Ninh, dọc theo
sông Vàm Cỏ Tây.
Rừng ở đây khác với rừng ngoài Bắc nhiều, không ẩm thấp, cheo leo mà
bằng phẳng đẹp tuyệt. Những lúc ngớt tiếng súng hoặc đi tải đạn về, tôi lại
lang thang trong rừng, ngắm những cây to mà cả mấy người ôm không xuể.
Cây cối, dây leo ở đây chằng chịt, rậm rạp mà lại khô ráo vì dưới chân toàn
cát. Có thể nằm lăn ra ngay dưới cát mà nghe chim kêu, vượn hú mỗi khi trời
chiều hoặc trong lúc tiếng súng tạm thời im lặng - sự im lặng mang dáng
hình chết chóc ập tới lúc nào không hay.
Vào những đêm trăng có loài đom đóm to như ngón tay út cứ sáng xanh
bay nhanh như sao đổi ngôi chứ không lập lòe như đóm đóm ngoài Bắc và
những con mối thì to khủng khiếp. Đêm ngủ, nếu không treo ba-lô cẩn thận
thì sáng hôm sau mối ăn hết sạch. Nó ăn nghe cứ rào rào như một đoàn quân
ra trận vậy. Còn có những con bò cạp to đùng, thằng Soạn đã từng bị nó đốt
cho, kêu ầm ĩ vì buốt rồi sốt mất mấy ngày may mà có thuốc tiêm mới đỡ.
Chúng tôi chẳng có lấy một ngày nghỉ ngơi vì ngày nào cũng có từ một
đến ba ca thương binh, tử sĩ. Những lúc ấy tôi dẫn mọi người đi, thường chỉ
cần 4 đến 6 người là đủ khiêng. Còn tiểu đội phó Soạn ở nhà, nếu có việc gì
thì đi tiếp.
Thời điểm này, Tây Ninh có những trận mưa như trút nước, dai dẳng
lắm. Nhiều khi đưa thương binh về, cả người khiêng lẫn thương binh đều ướt
như chuột lột, mệt đứt cả hơi mà không dám nghỉ. Chẳng may có vấp ngã thì
cũng phải cố ngóc cái đầu lên để cho cáng khỏi chạm đất vì sợ thương binh
bị đau thêm. Cực quá, thằng Vòng thốt lên:
- Thà khiêng tử sĩ còn sướng hơn! Có ngã các ông ấy cũng chẳng kêu
đau gì cả!
Nghe hắn buột miệng nói thế, tôi bực mình “hừ” một tiếng nhưng rồi
nghĩ lại thương nó và thương cho cả cái thân tôi nữa.
Tôi nhớ hôm trước tôi và thằng Vòng khiêng một cậu thương binh bị
thương vào chân. Hai thằng chúng tôi đã cố gắng hết sức mà thi thoảng vẫn
bị chạm gốc cây. Mỗi lần như thế, cậu thương binh lại ngóc đầu lên cằn
nhằn: “Khiêng thương binh mà khiêng thế à?”. Biết là cậu ấy đau đớn nên
chúng tôi không nói gì cả. Giá như chẳng có chiến tranh có phải hay biết
mấy.
Nhưng càng mưa, ta và địch càng đánh nhau quyết liệt hơn. Biết làm thế
nào?
* * *
Cuối tháng ba.
Tôi vừa đi tải thương về thì Trung đoàn bộ gọi tôi lên. Không biết có
chuyện gì? - cả Tiểu đội, Trung đội đều đoán già đoán non: “Chắc Tuấn tròn
được cử đi học hay là chuyển đơn vị khác đây mà”.
Ai cũng đoán như thế vì từ ngày vào chiến đấu đến bây giờ, tiếng tăm
của Tuấn tròn tôi nổi như cồn đến nỗi Trung đoàn bộ ai cũng biết. Tôi hồi
hộp lên Trung đoàn bộ, Ban quân lực đưa cho tôi một giấy triệu tập, trong
giấy viết: “Ra ngày Sư đoàn bộ có việc gấp!”. Tôi giật mình, đâm ra lo lắng.
Tôi cố gặng hỏi nhưng cũng không ai biết có chuyện gì cả. Chỉ biết Sư đoàn
gọi điện vào báo đích danh tôi phải ra ngay. Sư đoàn đóng ở Lò Gò cách
Trung đoàn khoảng 10km.
Cầm tờ lệnh trên tay, khoác khẩu AK và mấy băng đạn tôi đi ngay buổi
trưa. Thôi kệ, cứ ra rồi sẽ biết!
Khi tôi tìm đến được Sư đoàn bộ thì trời đã về chiều. Các anh trên này
chỉ cho tôi xuống nhà khách, bảo tôi cứ về đó nghỉ ngơi nên tôi xách balô đi
luôn vì ở trên này vừa sốt ruột lại cũng chẳng có ai mà nói chuyện. Gọi là
nhà khách chứ thực ra đó là căn hầm dã chiến, rộng chừng năm mét vuông là
cùng. Tôi dè dặt chui xuống hầm, quan sát xung quanh. Tôi cố làm quen với
bóng tối để nhìn rõ mọi vật trong hầm và sửng sốt thốt lên:
- Mẹ! - Tôi không thể ngờ được, người đang đứng trước mặt tôi đây lại là
Mẹ. Tôi ào đến, ôm lấy mẹ thật lâu, mãi tôi mãi lắp bắp được mấy câu - Sao
mẹ lại vào tận đây? Nguy hiểm quá!
Đạn pháo nổ ầm ầm vọng lại, còn mẹ thì cứ lặng yên xoa đầu tôi như lúc
tôi mới lên ba. Một lát, mẹ đẩy nhẹ tôi ra ngắm nghía, mẹ bảo:
- Trông con gầy nhưng mà có vẻ cứng cỏi hơn nhiều.
Được mẹ khen nhưng tôi chẳng biết nói gì, chỉ biết cười ngượng nghịu.
Từ vui mừng tôi chuyển sang bối rối. Đang không biết đón tiếp mẹ thế nào ở
nơi trận mạc thế này thì một anh bên Quân lực xuống bảo:
- Cậu đưa mẹ xuống Trung đoàn ngay đi!
Nghe anh nói vậy, tôi như cậu ngốc vội vã kéo tay mẹ cảm ơn và tạm
biệt Sư đoàn đi ngay. Gặp được mẹ là mừng quá rồi. Trong lòng tôi thấy vô
cùng tự hào về mẹ đã dám đi một mình vào chỗ súng đạn để đi bên cạnh tôi
như lúc này. Tôi hầu như quên hết thực tại, cứ dắt tay mẹ đi tự nhiên như
không hề có chiến trận xảy ra.
- Mẹ, mẹ vào đây bằng gì ạ?
- Mẹ đi công tác vào thành phố Hồ Chí Minh, nhân tiện xin xe cơ quan
vào đây tìm thăm con.
- Thế anh lái xe đâu rồi mẹ?
- Vào đến gần Sư đoàn, nghe tiếng súng nổ dữ quá, thấy anh ta có vẻ sợ
nên mẹ bảo anh ấy quay về. Mẹ tự tìm được mà.
- Khỉ thật! - Bỗng nhiên tôi bực mình - Sao anh lái xe nỡ để mẹ đi một
mình vào chỗ súng đạn thế này.
- Thôi mà con, anh ấy đưa mẹ vào được đến đây là tốt lắm rồi - Mẹ dỗ
dành tôi.
Mải nói chuyện mà hai mẹ con tôi không hề biết bìa rừng phía trước mặt
cách chúng tôi không còn xa nữa. Trời sẩm tối và cảnh hoàng hôn của rừng
già mới náo nhiệt làm sao? Tiếng chim kêu về tổ, tiếng vượn hú gọi nhau.
Thỉnh thoảng tiếng súng lại rộ lên làm cho những chú chim hoảng sợ bay tán
loạn. Càng về gần Trung đoàn, tiếng súng lại càng dữ dội hơn khiến tôi lại
càng lo bọn thám báo mà lởn vởn quanh đây thì mẹ làm sao mà an toàn
được? Trong lòng thì nghĩ vậy nhưng tôi nào dám tỏ ra lo lắng. Tôi nói với
mẹ:
- Con sẽ đi lên phía trước, còn mẹ đi sau con một đoạn, nếu có gì mẹ cứ
nằm sát xuống đất nhé!
Quả thật, tôi vô cùng lo lắng, lúc chiến đấu với quân thù tôi cũng không
lo như bây giờ. Tôi lo cho mình thì ít mà lo cho mẹ thì nhiều. Mẹ có bao giờ
đi giữa nguy hiểm thế này đâu? Không biết mẹ có lo lắng như tôi không, tôi
không dám hỏi mẹ, chỉ thấy mẹ mỉm cười an ủi tôi. Có lẽ mẹ tin tưởng con
mẹ lắm. Tôi nghĩ vậy và hơi yên tâm.
Thật may vừa tối thì hai mẹ con tôi kịp tới Trung đoàn bộ. Tôi thở phào
nhẹ nhõm.
Biết tin mẹ tôi vào thăm nhưng vì đang chiến đấu nên cả Đại đội tôi hân
hoan chào đón mẹ bằng cách cứ chốc chốc lại mấy anh chạy đến nắm tay
mẹ, hỏi han vài câu rồi lại ngay lập tức quay trở lại vị trí. Tiếng súng càng
lúc càng dữ dội hơn, khẩu DKZ cứ dzoành! dzoành... cách hầm mẹ con tôi
vài chục mét, liên tục, liên tục... Nhưng có hề gì đâu? Bởi cả đại đội tôi ai
cũng phấn khởi vì có Mẹ. Bỗng dưng mẹ như là mẹ của cả đại đội. Mọi
người xúm vào mắng tôi:
- Sao lại dám đưa Mẹ vào chốn nước sôi, lửa bỏng thế này? Cậu phải lo
cho mẹ nghỉ chỗ nào an toàn chứ.
- Nhưng tôi đã được nghỉ đâu? - Tôi cãi.
Thằng Vòng đỏ mặt lên nói:
- Đáng lẽ Trung đoàn phải bố trí cho hai mẹ con ra thị trấn Tân Biên mới
phải!
Mẹ nghe mọi người bàn cãi thế, cười:
- Các con đừng lo, mẹ muốn tận mắt xem các con chiến đấu như thế nào
mà.
Cuối cùng tôi cũng được anh em ưu tiên cho ở lại với mẹ. Thật là sung
sướng! Ngoài kia súng vẫn nổ ầm ầm! Mặc! Nhưng cho dù muốn nói chuyện
với mẹ thật nhiều tôi vẫn không thể cưỡng lại cơn thèm ngủ. Vì hàng tuần
nay có được ngủ đâu, cứ gà gật được lúc nào hay lúc ấy. Tôi đoán mẹ tôi
không tài nào ngủ được vì đạn pháo xung quanh cứ nổ ầm ầm. Hình như mẹ
đã luôn xoa đầu tôi lúc tôi ngủ, còn tôi thì cứ ngủ ngon lành như hồi còn bé.
Lúc mẹ con tôi xuống Trung đoàn định cảm ơn các thủ trưởng đã ...
 






Các ý kiến mới nhất